GIAI ĐOẠN 0: CHUẨN BỊ ĐẤT & GIEO SẠ

  • Làm đất, san phẳng mặt ruộng (Tiền đề sống còn): Mặt ruộng không bằng phẳng là nguyên nhân gốc rễ của mọi rắc rối: chỗ trũng lúa sẽ bị chết đuối hoặc ốc bươu vàng ăn nát, chỗ gò cao thì cỏ dại mọc lấn át lúa non. Cày ải phơi đất (nếu có thời gian giữa 2 vụ) để diệt mầm bệnh và cắt đứt chu kỳ của lúa cỏ. Sau khi vô nước, cày bừa thật kỹ để lớp đất mặt biến thành bùn nhuyễn (puddling). Bắt buộc phải dùng máy kéo gắn trục san phẳng mặt ruộng, tạo các rãnh thoát nước (đánh rãnh hình xương cá hoặc chạy dọc bờ) để chủ động rút nước khi cần.
  • Xử lý hạt giống trước gieo (Ngâm ủ nứt nanh): Hạt giống mua về cần được phơi nắng nhẹ vài giờ để kích thích nảy mầm. Ngâm hạt giống trong nước sạch (hoặc nước muối pha loãng để loại bỏ hạt lép lửng nổi lên trên) từ 24 – 36 tiếng (tùy giống lúa). Sau đó vớt ra, rửa sạch mùi chua và đem ủ ấm. Khi hạt lúa nứt nanh, mầm và rễ nhú ra màu trắng khoảng 1-2 mm (gọi là “mỏ chim”) là đạt chuẩn để đem gieo sạ.
  • Gieo sạ hoặc cấy đúng mật độ: Sạ lan (truyền thống) hoặc sạ hàng/máy sạ cụm. Khuyến khích sạ hàng hoặc sạ cụm bằng máy để đảm bảo mật độ vừa phải (khoảng 80 – 100 kg giống/ha). Sạ quá dày (hơn 150 kg/ha) lúa sẽ vóng cao, yếu ớt, dễ đổ ngã và là ổ dịch của rầy nâu, đạo ôn sau này.
  • Cấy máy/cấy tay: Cây mạ được ươm khay trước 12-15 ngày rồi đem cấy. Mật độ cấy thưa giúp ruộng cực kỳ thông thoáng, cây lúa đẻ nhánh khỏe và bông to.
  • Bón lót lân và hữu cơ: Trong môi trường bùn nước thiếu oxy, rễ lúa non rất cần Lân để bung rễ mạnh và chống rét/chống ngộ độc phèn. Bón lót 100% lượng phân Lân (Super Lân hoặc Lân nung chảy) ngay ở khâu bừa bạt (làm đất lần cuối) trước khi sạ. Bổ sung phân hữu cơ vi sinh nếu đất bị thoái hóa, bạc màu rải rác.
  • Chuẩn bị nền dinh dưỡng ban đầu (Chống ngộ độc hữu cơ): Nếu cày vùi rơm rạ vụ trước chưa phân hủy hết, bắt buộc phải rải thêm chế phẩm nấm vi sinh (như Trichoderma) phân giải rơm rạ ngay lúc làm đất để tránh tình trạng rơm rạ bốc men phân hủy sinh ra khí độc (H2S, CH4) làm thối rễ lúa non.
  • Giữ mực nước thấp sau gieo (Rút ráo mặt ruộng): Đối với lúa sạ thẳng, ngay sau khi sạ hạt, mặt ruộng phải được rút cạn nước, chỉ để lại lớp bùn nhão (xăm xắp nước ở rãnh). Việc này giúp hạt giống bám chặt vào bùn, rễ tơ dễ dàng cắm xuống đất mà không bị trôi dạt lềnh bềnh.
  • Tránh ngập sâu làm thối mầm: Nếu vừa gieo sạ xong gặp mưa lớn, phải lập tức mở cống và đánh rãnh rút nước cạn nhanh nhất có thể. Hạt lúa non bị ngâm chìm trong nước vài ngày sẽ bị ngộp thở, thối mầm và chết trắng mặt ruộng.
  • Xử lý hạt giống phòng nấm & lúa cỏ: Trước khi ngâm ủ, có thể xử lý hạt giống bằng các loại thuốc trộn giống chuyên dụng (Cruiser, Cruiser Plus…) để tạo lớp áo giáp bảo vệ hạt non khỏi các bệnh nấm mốc (như bệnh lúa von) và bù lạch (bọ trĩ) chích hút trong giai đoạn đầu.
  • Theo dõi và diệt ốc bươu vàng (Sát thủ khét tiếng): Ốc bươu vàng là kẻ thù số 1 lúc mới gieo sạ. Chỉ trong một đêm, chúng có thể cắn cụt lủi cả một khoảnh mạ non.
  • Xử lý: Nhặt ốc và ổ trứng thủ công. Đánh các rãnh nhỏ sâu xung quanh ruộng để khi rút nước, ốc sẽ gom xuống rãnh, giúp bạn dễ dàng thu gom hoặc rải bả thuốc diệt ốc tập trung dọc theo các rãnh này, hạn chế rải hóa chất tràn lan khắp mặt ruộng.

GIAI ĐOẠN 1: MẠ & HỒI XANH

  • Kiểm tra mật độ cây (Thăm đồng): Khoảng 7 – 10 ngày sau khi gieo sạ (hoặc 3 – 5 ngày sau cấy), bạn cần đi kiểm tra toàn bộ mặt ruộng. Đây là lúc lúa non hiện rõ nhất những điểm yếu trên đồng.
  • Dặm lại chỗ thưa (Cấy dặm): Ở những vũng trũng bị đọng nước làm chết mầm, hoặc những góc bị ốc bươu vàng cắn phá trắng xóa, bạn phải nhổ bớt mạ ở những chỗ mọc quá dày (hoặc dùng mạ dự phòng) để cấy dặm vào. Phải làm sớm để chồi dặm bắt kịp nhịp sinh trưởng của cả ruộng, đảm bảo mật độ đồng đều, không bỏ phí diện tích và hạn chế cỏ dại mọc lấn át lổ hổng.
  • Bón thúc lần 1 (Bón đẻ nhánh / rước phân): Thường tiến hành vào khoảng 7 – 10 ngày sau sạ (hoặc khi lúa cấy đã bén rễ, ra lá non mới). Đây là cữ phân cực kỳ quan trọng để “đẩy” cây lúa đẻ nhánh sớm. Tập trung bón lượng Đạm (Urea) vừa đủ kết hợp với Lân (hoặc dùng phân NPK chuyên dùng cho lúa giai đoạn 1) để rễ đâm sâu và lá vươn nhanh.
  • Bổ sung NPK cân đối: Không nên lạm dụng vãi quá nhiều Đạm (Urea) đơn độc, vì lúa sẽ bốc lên rất nhanh, lá mỏng mướt, rũ rượi, cực kỳ thu hút bọ trĩ và sâu cuốn lá. Sự có mặt của Lân và Kali lúc này giúp rễ khỏe, thân cứng cáp ngay từ lúc mới lọt lòng.
  • Giữ mực nước nông (Vô nước rước phân): Trái với lúc gieo sạ cần rút cạn nước, khi lúa đã lên xanh (được khoảng 2.5 – 3 lá thật), bạn bắt đầu cho nước vào ruộng. Mực nước lý tưởng nhất là rất nông, khoảng 1 – 3 cm (xăm xắp mặt bùn). Mực nước này vừa đủ để hòa tan phân bón thúc lần 1 cho rễ hút, vừa ém không cho hạt cỏ dại nảy mầm, đồng thời giữ ấm chân mạ vào ban đêm.
  • Không để ruộng khô nứt: Ruộng khô rang, nứt nẻ nẻ gót chân lúc này sẽ làm đứt phăng hệ rễ tơ non nớt bám trên mặt. Lúa sẽ lập tức vàng lá, chùn lại và cỏ dại (đặc biệt là lồng vực, cỏ đuôi phụng) sẽ bùng phát không thể kiểm soát.

Kiểm soát ốc bươu vàng (Vẫn là mối đe dọa): Lúa non 2-3 lá vẫn là món mồi ngon của ốc. Khi vô nước rước phân, ốc dưới bùn sẽ trồi lên hoạt động mạnh. Tiếp tục rải bả diệt ốc dọc theo các đường băng mương rãnh nhỏ đã đánh sẵn từ đầu vụ để diệt gọn chúng mà không ảnh hưởng tới lúa non.

Phòng bọ trĩ (bù lạch) và đạo ôn sớm:

  • Bọ trĩ: Thường xuất hiện khi ruộng thiếu nước, trời nắng nóng. Lúa bị bọ trĩ chích hút sẽ xoắn lá lại như chóp nón, đầu lá khô vàng. Cần giữ mực nước ổn định, lúa sẽ tự vượt qua khi rễ khỏe, hạn chế phun thuốc trừ sâu sớm làm mất cân bằng thiên địch (nhện bắt mồi, kiến ba khoang).
  • Đạo ôn sớm: Mùa sương mù, độ ẩm cao có thể làm xuất hiện các vết bệnh hình mắt én (hoặc hình thoi) màu xám tro trên lá lúa non. Nếu phát hiện sớm, cần phun lướt thuốc đặc trị (như Tricyclazole hoặc Azoxystrobin) và tuyệt đối ngừng bón vãi phân Đạm.

GIAI ĐOẠN 2: ĐẺ NHÁNH

  • Điều chỉnh mật độ nhánh (Kiểm soát chồi): Cây lúa sẽ đẻ nhánh liên tục trong khoảng từ 15 đến 35 ngày sau sạ. Những nhánh đẻ sớm (nhánh thế hệ 1, thế hệ 2) thường to khỏe và chắc chắn sẽ thành bông. Những nhánh đẻ quá muộn (sau 30 ngày) thường nhỏ xíu, bị rợp bóng, không thể trổ bông hoặc bông lửng lép. Mục tiêu của chúng ta là tập trung dinh dưỡng cho lứa nhánh đầu và chặn đứng việc đẻ nhánh muộn.
  • Giữ ruộng thông thoáng: Bụi lúa nở to rất nhanh làm bít bùng mặt ruộng. Sự thông thoáng ở gốc lúa lúc này giúp ánh sáng xuyên chiếu xuống tận bùn, ngăn ngừa rầy nâu trú ngụ và nấm bệnh bùng phát. Việc này phụ thuộc rất nhiều vào mật độ gieo sạ ban đầu và kỹ thuật siết nước.
  • Bón thúc lần 2 (Bón đẻ nhánh tối đa): Thường tiến hành vào khoảng 18 – 22 ngày sau sạ. Đây là cữ phân quyết định số lượng chồi hữu hiệu của cả vụ. Bón đủ lượng Đạm (Urea) để lúa có sức bung chồi mạnh nhất.
  • Bổ sung Kali (K2O) giúp cứng cây: Nếu chỉ bón Đạm, lúa sẽ bốc lên rất xanh tốt nhưng lá mỏng ẻo lả, thân mềm rũ. Việc trộn thêm Kali (hoặc dùng phân NPK chuyên dùng) ở cữ này giúp vách tế bào lúa dày lên, thân cứng cáp chống đổ ngã sau này và lá lúa đứng thẳng (lá đài vươn cao) giúp quang hợp tốt hơn.
  • Duy trì mực nước ổn định (Giai đoạn đầu đẻ nhánh): Từ 15 – 25 ngày sau sạ, duy trì mực nước nông khoảng 3 – 5 cm. Lớp nước mỏng này giúp điều hòa nhiệt độ, giữ ấm gốc lúa vào ban đêm và hòa tan phân bón thúc đợt 2 cho rễ hấp thu trọn vẹn.
  • Tháo nước ngắn để kích thích đẻ nhánh và hãm nhánh vô hiệu (Kỹ thuật Phơi ruộng/Siết nước): Đây là kỹ thuật “sống còn” của người trồng lúa chuyên nghiệp. Vào khoảng 30 – 35 ngày sau sạ (khi lúa đã đẻ đủ số nhánh tối đa), hãy mở cống tháo cạn kiệt nước trong ruộng trong khoảng 5 – 7 ngày cho đến khi mặt bùn nứt nẻ chân chim, đi chân vào không bị lún sình.
  • Tác dụng thần kỳ: Việc phơi ruộng ép bộ rễ lúa phải đâm sâu xuống dưới tìm nước (rễ khỏe, chống đổ ngã); hãm đứng lại việc đẻ thêm các chồi vô hiệu; xả bỏ các khí độc sinh ra từ bùn (H2S, CH4); và làm lá lúa chuyển từ màu xanh nõn chuối sang màu xanh vàng chanh cứng cáp (dấu hiệu lúa đang chuẩn bị làm đòng).
  • Kiểm soát sâu cuốn lá nhỏ: Ruộng lúa bón thúc Đạm lần 2 thường xanh mướt, cực kỳ thu hút bướm sâu cuốn lá đến đẻ trứng. Sâu non nở ra sẽ nhả tơ cuốn dọc mép lá lại thành ống và trốn bên trong ăn chất xanh, làm lá lúa bạc trắng.
  • Xử lý: Ở giai đoạn này, cây lúa có khả năng tự đền bù thiệt hại rất tốt (lá non mọc ra liên tục thay thế lá cũ). Chỉ phun thuốc đặc trị (hoạt chất Indoxacarb hoặc Chlorantraniliprole) khi mật độ sâu vọt lên quá cao (làm trắng xơ xác mặt ruộng). Tuyệt đối hạn chế phun thuốc trừ sâu phổ rộng sớm để bảo vệ đàn thiên địch (nhện, kiến ba khoang, ong ký sinh) đang bảo vệ ruộng.
  • Theo dõi bệnh đạo ôn lá (Bệnh cháy lá): Đây là bệnh nấm (Pyricularia oryzae) cực kỳ nguy hiểm, thường bùng phát mạnh khi trời có sương mù, ẩm độ cao và lúa bón dư Đạm.
  • Dấu hiệu: Trên lá xuất hiện các vết chấm nhỏ, sau đó lớn dần thành hình thoi (mắt én), tâm màu xám trắng, viền nâu đỏ. Nếu bệnh nặng, các vết xám nối liền nhau làm lá cháy khô rụi.
  • Xử lý: Khi thấy chớm bệnh, bắt buộc phải ngưng bón Đạm (Urea) ngay lập tức và giữ nước trong ruộng. Phun các loại thuốc đặc trị nấm đạo ôn (như Tricyclazole, Fenoxanil, Isoprothiolane).

GIAI ĐOẠN 3: LÀM ĐÒNG

  • Xác định đúng “điểm rơi” bón đòng (Tìm tim đèn): Đây là kỹ thuật quan trọng nhất. Phân bón đòng chỉ phát huy tối đa tác dụng khi bông lúa non bên trong thân mới nhú được 1 – 2 mm (trông giống như sợi lông tơ màu trắng, nông dân hay gọi là “tim đèn” hoặc “cứt chuột”).
  • Cách kiểm tra: Nhổ ngẫu nhiên vài dảnh lúa to nhất ruộng, dùng dao lam chẻ dọc thân lúa sát gốc. Nếu thấy mầm trắng nhú lên 1-2 mm thì lập tức rải phân ngay trong ngày hôm đó hoặc ngày hôm sau. Bón sớm quá lúa sẽ đẻ thêm nhánh vô hiệu, bón trễ quá bông lúa sẽ ngắn và ít hạt.
  • Giữ ruộng ổn định, không xáo trộn đất: Bộ rễ lúc này đã đâm sâu và đan xen chằng chịt dưới lớp bùn. Hạn chế tối đa việc lội xuống ruộng nhổ cỏ hay dậm đạp mạnh tay làm đứt rễ. Bất kỳ tổn thương rễ nào lúc này cũng làm giảm lượng dinh dưỡng bơm lên nuôi đòng non.

Bón Kali và Đạm hợp lý (Nhìn màu lá bón phân): Cữ phân “đón đòng” chủ yếu tập trung vào Đạm (N) và Kali (K2O). Tùy thuộc vào màu sắc của lá lúa để điều chỉnh:

  • Lúa màu vàng chanh (Lá ngót): Đây là màu lý tưởng nhất sau khi siết nước. Bón cân đối cả Đạm và Kali (ví dụ: NPK 20-20-15 hoặc bón urê trộn kali). Đạm giúp bông vươn dài, Kali giúp phân hóa được nhiều hạt trên một bông.
  • Lúa vẫn còn xanh đậm: Chứng tỏ ruộng đang dư Đạm. Bắt buộc phải cắt giảm Đạm, chỉ bón thuần Kali để ép cây chuyển sang trạng thái sinh sản, tránh lúa bị lốp đổ.

Bổ sung Silic (SiO2) tăng cứng cây: Rải hoặc phun phân bón có chứa Silic. Silic sẽ bám vào vách tế bào, biến lá lúa thành những chiếc “gươm” dựng đứng sừng sững (lá đài thẳng đứng). Điều này không chỉ giúp tối ưu hóa việc đón ánh sáng mặt trời để quang hợp mà còn tạo ra một lớp giáp cơ học khiến sâu cuốn lá và bào tử nấm cực kỳ khó xâm nhập.

  • Duy trì mực nước ổn định (Vô nước nuôi đòng): Sau đợt phơi ruộng nứt nẻ ở Giai đoạn 2, ngay khi quyết định bón phân đón đòng, bạn phải bơm nước trở lại ruộng. Duy trì mực nước ở mức 3 – 5 cm liên tục trong suốt giai đoạn này. Nước làm mát gốc lúa, hòa tan phân bón và tạo môi trường đệm an toàn cho đòng non phát triển.
  • Tránh khô hạn giai đoạn này: Nếu để ruộng khô kiệt nước vào lúc cây lúa đang phân hóa mầm hoa, đòng non sẽ bị teo tóp (chết khát). Bông lúa trổ ra sau này sẽ ngắn củn, hạt rụng lả tả và tỷ lệ lép vô cùng cao.
  • Kiểm soát sâu đục thân (Gây hiện tượng bông bạc): Đây là kẻ thù nguy hiểm nhất lúc làm đòng. Sâu đực thân đẻ trứng trên lá, ấu trùng nở ra sẽ chui tọt vào bên trong ống thân lúa, cắn đứt mạch dẫn nhựa. Hậu quả là bông lúa sau này trổ ra sẽ trắng phau, lép kẹp và chết khô (gọi là bông bạc).
  • Xử lý: Thăm đồng thường xuyên. Nếu thấy bướm sâu đục thân bay rộ, phải phun thuốc đặc trị (như Chlorantraniliprole hoặc Cartap) vào thời điểm 5-7 ngày sau khi bướm rộ để diệt ấu trùng non trước khi chúng kịp chui vào thân.
  • Phòng bệnh đạo ôn cổ bông: Bào tử nấm đạo ôn rất thích tấn công vào vị trí cổ bông (đoạn eo nối giữa thân và bông lúa). Nếu cổ bông bị nấm cắn đứt mạch, toàn bộ dinh dưỡng sẽ bị tắc nghẽn, bông lúa xám xịt và gãy gục. Nếu thời tiết âm u, có sương mù và ruộng bón dư đạm, cần phun phòng đạo ôn (bằng Tricyclazole hoặc Isoprothiolane) ngay trước khi lúa trổ lẹt xẹt.

GIAI ĐOẠN 4: TRỔ BÔNG & THỤ PHẤN

  • Tránh tác động mạnh lên ruộng (Hạn chế lội ruộng): Hoa lúa thường nở (phơi màu) rộ nhất vào khoảng 8h sáng đến 11h trưa. Hạt phấn lúa cực kỳ nhẹ và nhạy cảm. Việc bạn lội xuống ruộng quờ quạng, va đập mạnh vào bụi lúa trong khung giờ này sẽ làm rụng hạt phấn, dập vỡ nhụy, khiến hoa không thể thụ phấn và trở thành hạt lép.
  • Giữ ruộng thông thoáng: Sự thông thoáng giúp gió đưa hạt phấn bay từ hoa này sang hoa khác, chùm này sang chùm khác (mặc dù lúa chủ yếu tự thụ phấn nhưng thụ phấn chéo vẫn diễn ra). Mật độ sạ thưa từ đầu vụ sẽ phát huy sức mạnh tối đa ở giai đoạn này.
  • Tuyệt đối không bón Đạm (N) muộn: Lúc này, “khung sườn” của bông lúa đã định hình xong. Việc rải thêm phân Đạm xuống gốc không những không làm bông lúa to hơn mà còn gây họa lớn: Lúa sẽ xanh mướt trở lại, kéo dài thời gian chín, hạt lúa dễ bị nứt nẻ và thu hút toàn bộ nấm bệnh (đặc biệt là bệnh Lem lép hạt và Đạo ôn) tấn công vào hạt non.
  • Bổ sung Kali (K) qua lá nếu cần (Hỗ trợ vô gạo): Rễ lúa lúc này bắt đầu lão hóa dần, khả năng hút phân dưới bùn kém đi. Để giúp lúa “vô gạo” (chuyển hóa tinh bột vào hạt) nhanh và chắc tới cậy (hạt trong cùng của bông), bạn có thể phun sương các loại phân bón lá giàu Kali (như Kali Sunfat) và vi lượng vào buổi chiều mát.
  • Duy trì mực nước ổn định (Nước nuôi hạt): Cây lúa lúc trổ bông và ngậm sữa cần một lượng nước khổng lồ để bơm chất lỏng lên lấp đầy các vỏ trấu non. Phải duy trì mực nước trong ruộng ở mức 3 – 5 cm.
  • Tránh khô ruộng giai đoạn trổ (Phòng nghẹn đòng): Nếu ruộng bị khô cạn nứt nẻ lúc này, lúa sẽ bị “nghẹn đòng” (bông lúa không vươn thoát ra khỏi bẹ lá đài được), hoặc trổ ra được nhưng bông ngắn củn, hạt lép trắng xóa vì không có nước để vận chuyển tinh bột. Ngược lại, nếu nước ngập quá sâu lút cả cổ bông, phấn hoa sẽ bị thối.
  • Nguyên tắc “Phun thuốc trước và sau trổ”: Để bảo vệ bông lúa khỏi 3 bệnh nguy hiểm nhất (Đạo ôn cổ bông, Lem lép hạt và Bạc lá), nông dân có quy tắc phun xịt 2 lần:
  • Lần 1 (Trổ lẹt xẹt): Khi ruộng có khoảng 3-5% số bông bắt đầu nhú ra khỏi bẹ.
  • Lần 2 (Trổ đều): Khi 100% bông đã vươn thoát hoàn toàn và lúa đã ngậm sữa, cúi đầu (cong trái me).
  • Tuyệt đối CẤM: Không phun bất kỳ loại thuốc nào vào buổi sáng lúc lúa đang phơi màu (mở vỏ trấu), thuốc sẽ làm luộc chín nhụy và chết hạt phấn.
  • Kiểm soát rầy nâu (Kẻ thù hủy diệt): Giai đoạn lúa trổ, rầy nâu thường tích lũy mật số cực lớn dưới gốc lúa, chích hút nhựa làm khô cháy cả đám lúa (hiện tượng cháy rầy).
  • Xử lý: Phải rẽ lúa kiểm tra sát mặt nước. Nếu thấy mật độ rầy cám (rầy non) dày đặc, cần giữ mực nước ruộng cao một chút để ép rầy di chuyển lên trên, sau đó phun các loại thuốc lưu dẫn đặc trị rầy (như Pymetrozine, Dinotefuran) hướng béc phun rọi thẳng xuống gốc lúa.

GIAI ĐOẠN 5: CHÍN HẠT & THU HOẠCH

  • Thu hoạch đúng độ chín (Thời điểm vàng): Không phải đợi lúa chín khô ròn trên cây mới gặt. Độ chín lý tưởng nhất để đưa máy gặt xuống đồng là khi 80% – 85% số hạt trên bông lúa đã chuyển sang màu vàng rơm, chỉ còn một vài hạt ở gốc bông (hạt cậy) còn hơi xanh. Lúc này, gạo đã đặc hoàn toàn, trọng lượng hạt đạt tối đa và tỷ lệ hao hụt khi xay xát là thấp nhất.
  • Tránh gặt quá sớm hoặc quá trễ:
  • Gặt non: Hạt gạo còn mềm, ngậm nhiều nước, khi phơi sấy sẽ bị teo tóp, xay xát ra toàn gạo gãy (tấm), mất giá trị thương phẩm.
  • Gặt quá trễ (chín rục): Cuống hạt đã lão hóa, chỉ cần một trận gió mạnh hoặc tác động của trục cuốn máy gặt là hạt lúa rụng lả tả xuống bùn (hao hụt do rơi vãi rất lớn).
  • Tuyệt đối không bón thêm phân: Toàn bộ vòng đời dinh dưỡng của cây lúa đã khép lại. Lúc này, bộ lá đang bắt đầu tàn úa để nhường toàn bộ năng lượng vắt kiệt vào hạt. Nếu rải thêm bất kỳ loại phân bón nào (đặc biệt là phân Đạm), lúa sẽ bị “lại thanh” (xanh trở lại), hạt lúa chín không đều, mềm vỏ và thu hút vô số sâu bệnh đến phá hoại thành quả cuối cùng.
  • Tháo nước trước thu hoạch (Cắt nước siết ruộng): Khoảng 7 đến 10 ngày trước ngày dự kiến gặt, bạn phải mở toàn bộ các cống xả, đánh rãnh để rút cạn kiệt nước trong ruộng. Việc này giúp ép cây lúa ngừng hút nước, đẩy nhanh quá trình làm khô hạt lúa một cách tự nhiên.
  • Giữ ruộng khô để thu dễ dàng: Mặt bùn sau khi rút nước sẽ bắt đầu khô se và cứng lại. Đây là yếu tố sống còn để các cỗ máy gặt đập liên hợp (nặng hàng tấn) có thể bò xuống ruộng hoạt động trơn tru mà không bị sình lầy lún lầy. Ruộng càng khô, lúa gặt lên càng sạch sẽ, không bị lẫn bùn đất, tiết kiệm rất nhiều chi phí sấy lúa sau này.
  • Theo dõi rầy nâu cuối vụ (Cháy rầy): Ngay cả khi lúa đã chín vàng, rầy nâu vẫn có thể bùng phát thành dịch. Chúng quần tụ ở phần gốc lúa sát mặt đất để hút cạn những giọt nhựa cuối cùng, làm thân lúa khô ròn và đổ sập gãy gục hàng loạt chỉ trong 1-2 ngày (gọi là hiện tượng sập rầy). Lúc này lúa đã sắp gặt nên tuyệt đối không phun thuốc hóa học. Nếu mật độ quá rát, giải pháp tốt nhất là đẩy nhanh tiến độ thu hoạch sớm vài ngày để chạy rầy.
  • Kiểm soát chuột (Kẻ cắp bóng đêm): Hương thơm của lúa chín là thỏi nam châm thu hút đàn chuột đồng. Chúng cắn ngang thân lúa để ăn hạt, cắn nát cả một mảng ruộng. Tiếp tục đặt bẫy sập, bẫy lồng hoặc dùng bả sinh học rải dọc theo các bờ bao lớn, hang chuột để bảo vệ năng suất.