Đất vừa tưới đã khô, nước đọng lâu quanh gốc hoặc cây bón phân vẫn kém lớn là những tình trạng cần kiểm tra trước khi mua chế phẩm cải tạo đất. Nếu nguyên nhân nằm ở đường thoát nước hay lớp đất bị nén, cần xử lý những chỗ đó để vùng rễ có điều kiện phục hồi.
Humic và fulvic được cân nhắc trong kế hoạch chăm đất vì có thể tương tác với khoáng và dinh dưỡng quanh rễ. Để chọn cách dùng phù hợp, hãy xác định vấn đề của đất trước, xem chế phẩm có thể hỗ trợ phần nào rồi kết hợp với các biện pháp tưới, bổ sung hữu cơ và bón phân.
Kiểm tra tình trạng đất trước khi chọn humic, fulvic
Bắt đầu ở vùng cây đang phát triển kém và so với khu cây khỏe có điều kiện tương đồng. Xem đất trong bồn hoặc luống, các vết nén, tình trạng nước đọng và lượng nước thực tế cây nhận được. Những quan sát này giúp chọn việc cần kiểm tra kỹ hơn:
| Tình trạng cần kiểm tra |
Việc ưu tiên trước khi bổ sung chế phẩm |
| Đất cát nhanh khô, mặt đất ít che phủ | Kiểm tra lượng tưới và độ đồng đều; xem nguồn hữu cơ đã bổ sung, bố trí che phủ và chia lượng phân phù hợp |
| Đất bí chặt, nước thấm chậm hoặc đọng lâu | Kiểm tra lớp đất nén, đường thoát nước và rễ; hạn chế xe, máy đi qua khi đất ướt |
| Nghi đất chua, rễ phát triển kém | Phân tích pH và các chỉ tiêu đất cần thiết; xác định có cần điều chỉnh độ chua và lượng vật liệu phù hợp |
| Nghi đất tích muối sau nhiều đợt bón | Kiểm tra EC của đất, chất lượng nước tưới, lượng phân đã dùng và khả năng thoát nước |
Với cây vàng lá hoặc rễ yếu, cần xem cùng lúc đất, nước và nguồn dinh dưỡng đã bón. Khi gửi mẫu, chọn mẫu đại diện cho khu cần kiểm tra và ghi rõ tình trạng vườn. EC là độ dẫn điện của mẫu, được dùng để đánh giá mức muối hòa tan; khi so kết quả, cần giữ cùng phương pháp đo. Kết quả pH, EC và dinh dưỡng sẽ giúp phân biệt những vấn đề có biểu hiện gần giống nhau trên cây.
Nếu đất chua cần điều chỉnh, lượng vôi hoặc vật liệu cải tạo phải tính theo kết quả đất và yêu cầu của cây. Với đất tích muối, cần kiểm tra cả nguồn muối đi vào và đường thoát nước. Tên “axit humic” hay “axit fulvic” trên sản phẩm không cho biết đất sẽ thay đổi pH hoặc giảm muối bao nhiêu sau một lần dùng.
Humic và fulvic tham gia giữ, trao đổi dinh dưỡng ra sao?
Giữ các ion mang điện dương
Hạt sét và chất hữu cơ có những vị trí mang điện tích âm, có thể giữ các ion mang điện dương như kali, canxi, magiê và amoni. Các ion này có thể trao đổi với dung dịch đất. Khả năng giữ và trao đổi ấy được gọi là khả năng trao đổi cation, viết tắt CEC.
Humic và fulvic có các nhóm chức tham gia tương tác với ion. Tuy nhiên, CEC của cả tầng đất còn liên quan đến lượng và loại sét, chất hữu cơ, pH, cũng như lượng chế phẩm thực tế được bổ sung. Khi xem kết quả sau sử dụng, cần đánh giá đúng vùng đất đã nhận sản phẩm và lấy mẫu bằng cùng phương pháp.
Đạm ở dạng nitrat mang điện tích âm, dễ di chuyển theo nước hơn những ion được giữ qua trao đổi cation. Vì thế, quản lý phân vẫn phải đi cùng quản lý tưới: chia lượng bón theo nhu cầu cây và khả năng giữ của đất, tránh tưới quá nhiều làm chất hòa tan đi sâu khỏi vùng rễ.
Liên kết với một số nguyên tố trong dung dịch đất
Humic và fulvic còn có thể liên kết với các ion kim loại, chẳng hạn sắt và kẽm, tạo phức chất hữu cơ. Những liên kết này ảnh hưởng đến độ hòa tan và sự di chuyển của các nguyên tố, từ đó làm thay đổi khả năng cây tiếp cận dinh dưỡng. Tác động phụ thuộc pH, khoáng trong đất và đặc tính của phức chất được tạo thành.
Khi chọn sản phẩm cho một vấn đề dinh dưỡng, hãy đối chiếu thành phần với kết quả đất và tình trạng cây. Nếu đất thiếu kali hoặc magiê, kế hoạch vẫn cần nguồn cung cấp các chất đó. Với chế phẩm có phối hợp đạm, kali hay khoáng khác, tính cả phần đi kèm vào lịch bón để biết tổng lượng đã đưa vào.
Độ tơi, giữ ẩm và thoát nước cần được xem riêng
Ngoài dinh dưỡng, rễ còn cần khoảng trống để phát triển và trao đổi khí. Trong đất, các hạt khoáng và vật chất hữu cơ có thể liên kết thành cụm, gọi là đoàn lạp. Cách các cụm này hình thành, sắp xếp và giữ bền khi gặp nước ảnh hưởng đến hệ thống khe rỗng, sự thấm và giữ nước.
Humic và fulvic có thể tương tác với khoáng và các ion, ảnh hưởng đến sự liên kết giữa các hạt. Kết quả thay đổi theo nguồn chất, lượng dùng, pH và loại đất. Vì vậy, trước khi chọn chế phẩm, cần xác định mục tiêu là giữ ẩm lâu hơn hay giúp nước thoát khỏi vùng rễ.
Với đất cát thoát nước nhanh, mục tiêu thường là giữ ẩm và dinh dưỡng trong vùng rễ tốt hơn. Cần tính cả nguồn hữu cơ, lớp che phủ và cách chia các lượt tưới, bón. Với đất nặng hay đọng nước, ưu tiên lại là khả năng thoát nước và độ thoáng; cần kiểm tra mương, lớp nén và vị trí nước bị giữ lại trước khi tưới thêm chế phẩm.
Nếu đất bị nén do xe, máy đi qua khi còn ướt, hãy hạn chế tác động lên khu vực đó và đánh giá vị trí lớp nén để chọn cách xử lý. Duy trì nguồn hữu cơ, che phủ và giảm làm đất không cần thiết sẽ hỗ trợ rễ cùng sinh vật đất tham gia hình thành cấu trúc qua thời gian.
Đọc nhãn và tính lượng humic, fulvic thực tế đưa vào
Sau khi xác định việc cần cải thiện, chọn sản phẩm có hướng dẫn dùng cho cây trồng và bón qua đất. Xem dạng sản phẩm, hàm lượng humic, fulvic, các chất phối hợp và cách công bố chỉ tiêu. Với dạng tưới, cần kiểm tra thêm độ tan và tính phù hợp với hệ thống đang dùng.
Nếu đang phân vân giữa 2 nhóm, bài chọn humic hay fulvic để cải tạo đất giải thích thêm cách so sản phẩm. Khi mua, nên đối chiếu cả lượng cần dùng và số lần sử dụng trong đợt chăm sóc, thay vì chỉ so giá mỗi bao hoặc chai.
Giả sử một nhãn ghi 70% humic theo khối lượng sản phẩm, dùng 10 kg sẽ bổ sung 10 × 70% = 7 kg humic. Nếu nhãn ghi hàm lượng trên chất khô, cần biết độ ẩm và tính khối lượng chất khô trước khi nhân với tỷ lệ humic. Hãy hỏi rõ nhà cung cấp khi cách ghi chưa đủ để quy đổi.
Phép tính cho biết lượng humic đã đưa vào, còn mức tăng hữu cơ của cả tầng đất phải xét thêm khối lượng đất, độ sâu, diện tích xử lý và sự biến đổi của vật liệu sau bón. Nếu mục tiêu là tăng và duy trì lượng hữu cơ trong đất, cần lập kế hoạch cho phân hữu cơ hoai, compost hoặc nguồn phụ phẩm đã xử lý phù hợp, cùng lượng chế phẩm dự định dùng.
Bố trí cách dùng theo độ ẩm và vùng rễ
Khi đã chọn nguồn và lượng dùng, bố trí humic, fulvic trong lịch chăm sóc cùng các công việc tưới, bón đã có. Trước ngày thực hiện, kiểm tra độ ẩm ở vùng định xử lý. Nếu đất còn sũng hoặc đọng nước, cần xử lý thoát nước; nếu quá khô, điều chỉnh tưới để có điều kiện sử dụng phù hợp với hướng dẫn sản phẩm.
Với dạng rải, chia đều lượng trong vùng bón rồi lấp hoặc xử lý lớp phủ, tưới theo chỉ dẫn. Với dạng tưới, đưa dung dịch phân bố trong vùng rễ hoạt động, kiểm tra béc hoặc đầu nhỏ giọt để hạn chế chỗ nhận quá nhiều, chỗ nhận quá ít.
Nếu châm qua hệ thống, chỉ chọn sản phẩm được hướng dẫn cho cách dùng đó. Kiểm tra khả năng hòa tan với nguồn nước thực tế và tính tương thích trước khi pha chung với phân khác. Sau khi châm, vận hành nước sạch theo quy trình để đưa dung dịch còn trong đường ống ra vùng tưới, đồng thời kiểm soát tổng lượng nước theo nhu cầu của cây.
Theo dõi đúng vấn đề đã chọn để quyết định lần dùng sau
Ghi tình trạng ban đầu trước khi bón, chọn chỉ tiêu và thời điểm sẽ đánh giá. Với đất nhanh khô, ghi độ ẩm ở cùng độ sâu và sau tưới trong những điều kiện thời tiết tương đương, kèm lượng nước đã tưới. Với đất chua hoặc tích muối, lấy mẫu kiểm tra pH, EC theo cùng phương pháp và vị trí đại diện. Khi quan sát rễ, chọn điểm kiểm tra phù hợp, hạn chế đào đi đào lại quanh gốc.
Nếu muốn biết riêng việc thêm chế phẩm có tạo khác biệt hay không, có thể bố trí 3 cặp khu tương đồng. Mỗi cặp có một khu bổ sung và một khu đối chiếu; chọn ngẫu nhiên khu dùng chế phẩm. Giữ nguồn hữu cơ, phân nền, nước tưới và các biện pháp cải tạo khác tương tự, tránh để dung dịch đi sang khu đối chiếu. Ghi và xem kết quả của từng khu, thay vì chỉ chọn những cây phát triển đẹp nhất.
Đến thời điểm đánh giá, đối chiếu các chỉ tiêu đã chọn cùng tiền sản phẩm và công sử dụng. Khi kết quả giữa các khu khác nhau nhiều, cần kiểm tra lại đất, nước và nhờ hỗ trợ phân tích. Trước đợt mua sau, dùng kết quả theo dõi để quyết định tiếp tục chế phẩm hay ưu tiên chi phí cho nguồn hữu cơ, tưới hoặc thoát nước còn thiếu.