Vườn đã bón phân chuồng, đến đợt chăm sóc tiếp theo có cần thêm NPK? Trước khi mua, hãy xem nguồn phân đã bón có thể cung cấp bao nhiêu dinh dưỡng trong vụ và cây đang cần thêm chất gì. Nếu còn muốn dùng vi sinh, cần xác định sản phẩm đó được chọn để hỗ trợ quá trình nào.
Hiểu vai trò của phân hữu cơ, vô cơ và vi sinh sẽ giúp sắp xếp các nguồn vào cùng một kế hoạch. Hữu cơ bổ sung vật liệu cho đất và dinh dưỡng; phân khoáng giúp điều chỉnh lượng từng chất; còn tác dụng của vi sinh gắn với chủng sống và điều kiện sử dụng. Có thể bắt đầu từ nguồn hữu cơ đã có trong vườn để tính tiếp những phần cần bổ sung.
Phân hữu cơ: bổ sung vật liệu cho đất và dinh dưỡng cho cây
Phân chuồng hoai, compost và các sản phẩm hữu cơ chế biến đưa vào đất cả chất hữu cơ lẫn dưỡng chất. Với nguồn phù hợp và lượng bón hợp lý, chất hữu cơ góp phần cải thiện khả năng giữ nước, giữ dinh dưỡng, cấu trúc đất và môi trường sống của sinh vật đất. Đây là những lợi ích cần cân nhắc khi đất nghèo hữu cơ hoặc giữ ẩm kém.
Khi chọn nguồn, hãy xem nguyên liệu, cách xử lý, độ ẩm và thành phần. Phân chuồng hoặc compost từ các lô khác nhau có thể mang lượng dinh dưỡng khác nhau do chất độn, cách ủ và bảo quản. Nếu muốn tính sát phần đạm, lân, kali đã đưa vào vườn, nên dùng kết quả phân tích của mẫu đại diện cho lô phân.
Với mục tiêu cải thiện đất, cần tính cả lượng vật liệu thực tế. Một chế phẩm đậm đặc dùng ở lượng nhỏ bổ sung khối lượng hữu cơ khác với một đợt compost hoặc phân chuồng. Bài humic và fulvic cải tạo đất như thế nào giúp phân biệt vai trò của chế phẩm với nguồn vật liệu hữu cơ trong kế hoạch chăm đất.
Phần dinh dưỡng cũng cần được tính riêng. Chẳng hạn, đạm hữu cơ trong phân chuồng và compost phải được vi sinh vật chuyển hóa thành dạng cây sử dụng được; tốc độ phụ thuộc nguyên liệu, mức độ hoai mục, nhiệt độ và độ ẩm đất. Vì vậy, khi cân đối lượng phân bón cho một vụ, phải ước tính phần có thể cung cấp trong vụ đó.
Nếu sau khi tính nguồn cung từ đất và hữu cơ vẫn còn thiếu dinh dưỡng ở một giai đoạn, hãy chọn thêm nguồn phân khoáng phù hợp.
Phân vô cơ: tính lượng dưỡng chất theo nhãn và chọn dạng phù hợp
Các loại phân vô cơ thường gặp gồm urê, SA, phân lân, phân kali, NPK và phân bổ sung trung, vi lượng. Khi đã biết cần bổ sung chất nào, có thể dùng hàm lượng công bố để tính lượng dưỡng chất trong sản phẩm định bón.
Lấy 10 kg NPK 16-16-8 để xem cách tính. Ba số trên nhãn biểu thị tỷ lệ phần trăm theo khối lượng của N, P₂O₅ và K₂O:
| Chỉ tiêu dinh dưỡng |
Phép tính với 10 kg phân |
Lượng tính theo nhãn |
| Đạm, tính theo N |
10 × 16% |
1,6 kg N |
| Lân, tính theo P₂O₅ |
10 × 16% |
1,6 kg P₂O₅ |
| Kali, tính theo K₂O |
10 × 8% |
0,8 kg K₂O |
Khi cộng với nguồn khác, hãy giữ thống nhất các chỉ tiêu này. Ví dụ, cộng lân theo P₂O₅ với P₂O₅, kali theo K₂O với K₂O. Nếu phiếu phân tích ghi nguyên tố P hoặc K, cần quy đổi về cùng cách biểu thị trước khi cộng; 1,6 kg P₂O₅ và 1,6 kg P là 2 lượng khác nhau.
Kết quả trên dùng để tính lượng dinh dưỡng đưa vào, còn lượng cây hấp thu chịu ảnh hưởng của nước, rễ, dạng phân và thất thoát sau bón. Trong nhóm phân khoáng có loại tan nhanh, loại ít tan và loại được thiết kế giải phóng có kiểm soát. Vì thế, đọc hàm lượng phải đi cùng xem dạng phân, cách bón và thời điểm cây cần chất đó.
Chẳng hạn, nếu cần thêm kali nhưng kế hoạch đạm đã đủ, hãy xem cả N và K₂O của công thức định mua. Chọn nguồn có thành phần phù hợp sẽ giúp bổ sung kali mà vẫn kiểm soát tổng đạm ví dụ như K2SO4, MKP... Đồng thời, chia lượng và đặt phân theo hướng dẫn để hạn chế nồng độ muối cao tại chỗ tiếp xúc với rễ.
Phân vi sinh: chọn theo chủng, cây trồng và công việc cần hỗ trợ
Phân vi sinh cung cấp vi sinh vật sống được tuyển chọn cho một số chức năng, như cố định đạm hoặc hỗ trợ huy động dinh dưỡng. Chủng phải còn sống và có điều kiện hoạt động phù hợp khi đưa ra vườn. Vì thế, trước khi mua, cần biết loại vi sinh nào, dùng cho cây gì và bằng cách nào.
Chẳng hạn, vi khuẩn tạo nốt sần (rhizobia) cố định đạm từ không khí khi cộng sinh với cây họ Đậu phù hợp. Nấm rễ cộng sinh lại phát triển cùng rễ (mycorrhiza), giúp cây tiếp cận dinh dưỡng trong đất, đặc biệt là lân. Vì quan hệ với cây khác nhau, cần chọn chế phẩm theo đúng cây trồng và khâu sử dụng trên nhãn.
Sau khi chọn đúng loại, kiểm tra tên vi sinh, mật độ CFU hoặc số đơn vị sống được công bố, hạn dùng và yêu cầu bảo quản. Khi sử dụng, làm đúng khâu xử lý hạt, bầu cây hoặc vùng rễ trên nhãn. Độ ẩm, độ thoáng, pH và điều kiện đất cần phù hợp với chủng; vườn đang úng hoặc vùng rễ bị tổn thương vẫn phải được xử lý nguyên nhân.
Muốn giảm phân khoáng nhờ vi sinh, hãy yêu cầu thông tin thử nghiệm và mức giảm đã được kiểm tra cho đúng cây, sản phẩm và liều dùng. Lượng chế phẩm tính bằng gam hoặc ml không cho biết số kg N, P₂O₅ hay K₂O có thể giảm. Khi áp dụng phương án điều chỉnh, cần theo dõi tình trạng dinh dưỡng, sinh trưởng và năng suất để đánh giá kết quả.
Ngoài hỗ trợ dinh dưỡng, vi sinh còn được dùng để ủ phụ phẩm nông nghiệp như rau hoa hư hỏng, quản lý bệnh hoặc trừ sâu. Khi cần một trong các công việc này, hãy chọn chế phẩm có hướng dẫn cho đúng mục tiêu. Bài 7 nhóm vi sinh trong nông nghiệp trình bày rõ hơn các ứng dụng để đối chiếu trước khi mua.
Hữu cơ khoáng và hữu cơ vi sinh: đọc đủ thành phần phối hợp
Khi đã phân biệt vai trò của từng nhóm, việc đọc sản phẩm phối hợp sẽ dễ hơn. Một bao phân có thể vừa mang chất hữu cơ, vừa cung cấp NPK hoặc vi sinh sống. Lúc này, cần ghi đủ những thành phần được công bố vào kế hoạch:
| Sản phẩm |
Thành phần cần đọc |
Cách tính và chọn dùng |
| Hữu cơ khoáng |
Chất hữu cơ và các chỉ tiêu dinh dưỡng khoáng như NPK |
Tính cả lượng hữu cơ lẫn N, P₂O₅, K₂O được cung cấp |
| Hữu cơ vi sinh |
Chất hữu cơ, vi sinh được công bố và dinh dưỡng nếu có |
Xem lượng hữu cơ, chủng và mật độ; tính thêm các chỉ tiêu dinh dưỡng trên nhãn |
Chẳng hạn, hữu cơ khoáng đã đưa vào một lượng kali thì phải cộng lượng này với kali từ NPK hoặc phân kali bón sau. Với hữu cơ vi sinh có công bố NPK, cũng cần tính phần dinh dưỡng ấy. Riêng lượng hữu cơ, tính từ hàm lượng và khối lượng sản phẩm thực tế đã bón.
Phối hợp phân hữu cơ, vô cơ và vi sinh trong một lịch bón
Trước hết, xem vườn cần giải quyết việc gì. Đất nghèo hữu cơ cần kế hoạch bổ sung các loại phân hữu cơ, vi sinh, vật liệu che phủ như rơm rạ và quản lý nước. Cây cần thêm một dưỡng chất thì phải xem biểu hiện cây và nguồn cung đã có để tính phần còn thiếu. Nếu đang úng, khô hạn hoặc rễ hư, xử lý điều kiện vùng rễ trước khi tăng phân.
Từ mục tiêu đó, liệt kê các nguồn đã dùng và lượng dự kiến bón tiếp: phân chuồng, compost, hữu cơ đóng bao, NPK, phân đơn và các nguồn trung, vi lượng. Dùng kết quả phân tích đất, vật liệu hoặc nước tưới nếu có để lập bảng dinh dưỡng. Bài cân đối hữu cơ và vô cơ cho cà phê có ví dụ về cách tính từng nguồn; lượng cụ thể cần được lập lại cho cây và vườn đang chăm sóc.
Khi tăng hữu cơ, vẫn cần theo dõi dinh dưỡng và biểu hiện của đất và cây. Phân chuồng, compost có thể mang nhiều lân, kali hoặc muối; bón tăng liên tục có thể làm tăng muối hòa tan trong đất nếu loại phân chưa được xử lý kĩ, nhất là nơi ít được rửa trôi. Hãy điều chỉnh theo chất lượng nguồn phân và kết quả đất, thay vì chỉ nhìn số tấn hữu cơ đã bón.
Chỉ đưa chế phẩm vi sinh vào lịch bón khi đã xác định được công việc cần hỗ trợ và sản phẩm phù hợp. Bố trí đúng khâu sử dụng theo nhãn; nếu dùng cùng thuốc nấm, chất sát khuẩn hoặc vật tư khác, kiểm tra hướng dẫn tương thích trước khi phối hợp. Khả năng sống của chủng cần được giữ từ lúc bảo quản đến khi đưa ra vườn.
Cuối mỗi đợt, ghi loại phân, lượng bón, ngày dùng và tình trạng đất, cây. Khi chuẩn bị lượt bón tiếp theo, đối chiếu các nguồn đã dùng với kết quả đất và sinh trưởng để tính phần còn cần, rồi mới đặt thêm vật tư.