Đã bón phân chuồng thì có cần giữ nguyên lượng NPK như trước? Nếu chuyển sang hữu cơ đóng bao, mỗi gốc phải dùng bao nhiêu và phần vô cơ còn lại tính thế nào? Nguồn hữu cơ vừa bổ sung vật liệu cho đất, vừa đưa thêm dinh dưỡng vào vườn, nên phần này cần được tính trước khi chốt lượng phân khoáng.
Khi lập kế hoạch bón phân cà phê, hãy chọn nguồn hữu cơ và lượng dự kiến dùng trước, sau đó ước tính phần dinh dưỡng có thể đóng góp trong vụ. Từ phần còn thiếu mới tính lượng NPK hoặc phân đơn cần bổ sung. Cách làm này giúp quyết định giữ hay điều chỉnh từng chất, thay vì tự giảm đều tất cả phân khoáng sau một đợt bón hữu cơ.
Vì sao phải tính hữu cơ và vô cơ trong cùng kế hoạch?
Phân chuồng hoai, compost vỏ cà phê hay hữu cơ thương mại đều có thể cung cấp đạm, lân và kali. Một phần dinh dưỡng có sẵn ở dạng cây sử dụng được; phần khác, nhất là đạm hữu cơ, còn phải phân giải dần. Vì vậy, khi tính lượng phân khoáng cần bổ sung, phải xem phần hữu cơ có thể cung cấp trong vụ, bên cạnh hàm lượng tổng số trên nhãn hoặc phiếu phân tích.
Vật liệu hữu cơ còn góp phần cải thiện cấu trúc đất, khả năng giữ nước và môi trường sống của sinh vật đất. Đó là những yếu tố ảnh hưởng đến vùng rễ trong một vườn cà phê được chăm sóc nhiều năm. Vì vậy, khi chọn nguồn cần xét chất lượng hữu cơ, lượng đưa vào đất và dinh dưỡng đi kèm.
Phần vô cơ được bố trí để bổ sung những chất còn thiếu sau bước cân đối. Trước khi chọn số bao, hãy xem tuổi cây, năng suất cà phê nhân, sức cây, kết quả đất và lượng phân đã dùng các vụ trước. Vườn kinh doanh ổn định, cây mới trồng và vườn vừa cưa đốn cần các kế hoạch riêng.
Chọn nguồn hữu cơ và tính lượng cho cả vườn
Nếu có phân chuồng hoặc vỏ cà phê, cần xử lý và ủ hoai trước khi bón. Khi mua, kiểm tra nguồn nguyên liệu, độ hoai, độ ẩm và tạp chất. Phân nhiều nước làm tăng khối lượng vận chuyển; phân lẫn đất lại làm giảm tỷ lệ vật liệu hữu cơ trong mỗi tấn hàng.
Với hữu cơ vi sinh dạng rắn, đọc hàm lượng hữu cơ, NPK nếu có, thông tin vi sinh và hướng dẫn cho cà phê. Lượng dùng phải tính theo chính sản phẩm đang chọn. Phân chuồng đã ủ và hữu cơ vi sinh đóng bao có thể khác nhiều về độ ẩm, thành phần cũng như lượng cần bón.
Để hình dung lượng vật tư, xét 1 ha cà phê vối kinh doanh có 1.100 gốc. Hai mức tham khảo sau được quy đổi theo mật độ này:
| Nguồn hữu cơ |
Mức tham khảo cho 1 ha |
Bình quân với 1.100 gốc/ha |
| Phân chuồng đã ủ hoai | 10 tấn cho một đợt, mức tham khảo 2 năm/lần | Khoảng 9,1 kg/gốc/đợt |
| Hữu cơ vi sinh dạng rắn | 1,2–2 tấn/ha/năm, đối chiếu nhãn sản phẩm | Khoảng 1,1–1,8 kg/gốc/năm |
Với phân chuồng, cần chọn chu kỳ thực tế theo hàm lượng hữu cơ của đất và lịch bổ sung những vụ trước. Bài hướng dẫn bón hữu cơ cho cà phê có thêm cách xác định chu kỳ và tính lượng theo diện tích.
Hai dòng là các phương án để cân nhắc khi lập kế hoạch. Nếu dùng kết hợp, cần phân bổ lại lượng và dinh dưỡng từng nguồn, tránh cộng nguyên mức của cả 2. Các mức trong bảng cũng không dùng thay hướng dẫn của humic, fulvic đậm đặc; lượng vật liệu hữu cơ từ những sản phẩm này phải tính theo thành phần và khối lượng thực dùng.
Khi đã chọn nguồn, ghi lượng, thời điểm và diện tích dự kiến bón. Đây là dữ liệu để tính phần dinh dưỡng đi kèm, trước khi chuẩn bị phân khoáng.
Ước tính phần dinh dưỡng từ hữu cơ trước khi giảm phân khoáng
Phân bò, phân gà và compost vỏ cà phê có thành phần khác nhau. Độ ẩm, chất độn, cách ủ và bảo quản cũng làm thay đổi lượng dinh dưỡng trong mỗi tấn. Với khối lượng lớn hoặc nguồn mới, phân tích mẫu đại diện cho lô sẽ giúp tính sát hơn so với dùng một hàm lượng chung.
Trên kết quả phân tích, cần đọc rõ chỉ tiêu N, P₂O₅, K₂O và cơ sở tính trên phân nguyên trạng hay chất khô. Sau khi tính được dinh dưỡng tổng số, mới ước tính phần có thể cung cấp trong vụ. Riêng đạm hữu cơ, lượng giải phóng phụ thuộc mức phân hủy của vật liệu, tỷ lệ cacbon/đạm và điều kiện ẩm, nhiệt của đất; vì thế không trừ toàn bộ N tổng số ngay khỏi nhu cầu bổ sung bằng phân khoáng.
Lân và kali cũng phải xem riêng. Nếu đất đã tích lũy lân mà nguồn hữu cơ vẫn tiếp tục đưa thêm lân vào, cần tính lại phần lân khoáng. Trong khi đó, lượng kali còn phải đối chiếu với sản lượng dự kiến và khả năng cung cấp của đất. Giảm cùng một tỷ lệ cho cả N, P₂O₅ và K₂O sẽ bỏ qua những khác biệt này.
Một điểm cần kiểm tra trước khi trừ là quy trình đang áp dụng đã tính nguồn hữu cơ nào hay chưa. Nếu kế hoạch có sẵn cả hữu cơ và vô cơ, cần xem phần đóng góp đã được tính ở bước nào để tránh trừ lần thứ 2. Khi chuyển sang một kế hoạch riêng, hãy xác định lại mức bổ sung từ kết quả đất, phân tích vật liệu và tình trạng vườn.
Ví dụ cân đối hữu cơ và vô cơ cho 1 ha
Để minh họa cách trừ từng chất, giả sử một kế hoạch riêng đã xác định tổng lượng cần bổ sung từ các nguồn phân là 250 kg N, 80 kg P₂O₅ và 250 kg K₂O/ha/năm. Phần hữu cơ dự kiến đáp ứng trong vụ được ước tính riêng là 30 kg N, 20 kg P₂O₅ và 50 kg K₂O.
Các số này là đầu vào giả định cho phép tính, không phải liều dùng hay hệ số giải phóng dinh dưỡng chung cho các vườn. Phần dự kiến từ hữu cơ cần được xác định theo nguồn phân và điều kiện sử dụng thực tế, không suy trực tiếp từ số tấn trong bảng trên.
| Chất dinh dưỡng |
Tổng cần bổ sung từ phân |
Phần dự kiến từ hữu cơ |
Còn cần từ vô cơ |
| N | 250 kg | 30 kg | 220 kg |
| P₂O₅ | 80 kg | 20 kg | 60 kg |
| K₂O | 250 kg | 50 kg | 200 kg |
Như vậy, bước tiếp theo là chọn nguồn phân khoáng để cung cấp 220 kg N, 60 kg P₂O₅ và 200 kg K₂O. So với tổng cần bổ sung của từng chất, phần dự kiến từ hữu cơ tương ứng 12% N, 25% P₂O₅ và 20% K₂O. Giảm đồng loạt 20% tất cả NPK sẽ không khớp với bảng này. Nếu kết quả ước tính hữu cơ thay đổi, cần tính lại cột cuối trước khi mua phân.
Quy đổi phần còn thiếu thành lượng phân cần mua
Đạm được tính theo N, lân theo P₂O₅ và kali theo K₂O. Muốn quy đổi, lấy lượng chất còn cần chia cho tỷ lệ hàm lượng trên nhãn; chẳng hạn, urê 46% N được đưa vào phép chia dưới dạng 0,46.
Giả sử phương án cần thêm lưu huỳnh và chọn 200 kg SA loại 21% N. Lượng SA này đã cung cấp 42 kg N, nên chỉ còn 220 − 42 = 178 kg N cần lấy từ urê. Các loại phân và khối lượng sẽ được tính như sau:
| Phân trong ví dụ |
Phép tính |
Lượng cho 1 ha/năm |
| SA 21% N | Chọn 200 kg, cung cấp 200 × 21% = 42 kg N | 200 kg |
| Urê 46% N | (220 − 42) ÷ 0,46 | Khoảng 387 kg |
| Lân nung chảy 15% P₂O₅ hữu hiệu | 60 ÷ 0,15 | 400 kg |
| Kali clorua 60% K₂O | 200 ÷ 0,60 | Khoảng 333 kg |
Sau khi làm tròn, tổng vật tư là 1.320 kg phân khoáng/ha/năm, cung cấp 220,02 kg N, 60 kg P₂O₅ và 199,8 kg K₂O. Đây là phần vô cơ trong ví dụ, bên cạnh nguồn hữu cơ đã được tính trước. Nếu SA có 24% S, 200 kg còn đưa vào 48 kg S, nên cần tính cả phần lưu huỳnh trước khi chọn thêm nguồn S khác.
Khi đổi sản phẩm, tính lại theo đúng chỉ tiêu và hàm lượng được giao. Chẳng hạn, lân nung chảy có 16% P₂O₅ hữu hiệu thì lượng để cung cấp 60 kg P₂O₅ là 60 ÷ 0,16 = 375 kg, thay cho 400 kg của loại 15%.
Nếu chọn NPK hỗn hợp, hãy tính N, P₂O₅ và K₂O trong lượng NPK dự kiến trước, sau đó mới bổ sung từng phần còn thiếu. Các bài về phân đạm, phân lân và phân kali cho cà phê có thêm cách chọn nguồn và so chi phí theo từng chất.
Chia đợt bón sau khi đã chốt tổng lượng
Khi bảng dinh dưỡng và vật tư đã hoàn thành, mới chia lượng cho từng đợt. Với phương án bón đất cho cà phê vối kinh doanh, có thể tham khảo cách chia 4 đợt ở Lâm Đồng, rồi tính lại khối lượng theo tổng mới của vườn. Khi dùng ở vùng khác, cần điều chỉnh thời điểm theo mùa mưa và khả năng tưới.
Phần hữu cơ có lịch riêng trong cùng kế hoạch. Phân chuồng hoai thường thuận tiện để bón vào đầu hoặc giữa mùa mưa, khi đất đủ ẩm và thoát nước tốt. Chọn cách rải, vùi hoặc làm rãnh theo loại phân và vị trí rễ, hạn chế đào cắt rễ. Nếu bón trong mùa khô, phải có nước đáp ứng yêu cầu sử dụng.
Với phân khoáng, chia theo giai đoạn chăm sóc và lượng cây còn cần, thay vì đưa hết tổng năm vào một lần. Mùa khô cần gắn đợt bón với nước tưới; mùa mưa chọn lúc đất đủ ẩm, tránh khi đang úng hoặc sắp có mưa lớn gây chảy tràn.
Khi bón đạm và kali vào đất, phân bố đều trong vùng rễ dưới tán, rải rồi lấp theo hướng dẫn, tránh dồn sát thân. Trong phương án này, lân nung chảy được bón riêng với đạm. Loại lân này không tan trong nước nên không đưa vào hệ thống châm phân; nếu chuyển sang tưới phân, cần chọn sản phẩm phù hợp và tính lại lượng, số lần sử dụng.
Ghi cả đợt hữu cơ lẫn vô cơ vào cùng lịch. Trước mỗi lần bón, đối chiếu phần đã dùng và ghi rõ lượng mới cho từng lô để người thực hiện không bón lặp phần đã có.
Ghi lượng bón và chi phí để điều chỉnh vụ sau
Sau mỗi đợt, ghi loại phân, hàm lượng, khối lượng thực dùng, diện tích và ngày bón. Cần cập nhật ngay khi thay sản phẩm hoặc phát sinh một đợt ngoài kế hoạch. Nhờ đó, trước khi mua tiếp có thể tính đúng phần còn lại của từng chất.
Cuối vụ, cộng tiền phân, vận chuyển và công bón, đồng thời ghi sản lượng cà phê nhân thu được. Chi phí phân bón trên mỗi tấn nhân bằng tổng chi phí phân bón chia cho số tấn nhân. Khi đối chiếu qua các vụ, xem thêm thời tiết, lượng quả và những thay đổi trong cách chăm sóc để hiểu khoản chi đã thay đổi vì đâu.
Trước vụ mới, dùng sổ bón phân và kết quả đất để chọn lại nguồn hữu cơ, lượng phân khoáng và các đợt cần điều chỉnh. Chốt số lượng cần mua theo kế hoạch mới rồi giao lại lượng bón cho từng lô.