Cùng một lượt tưới nhưng có cây đã ướt quanh bầu, có cây vẫn khô ở vùng rễ. Nếu tăng giờ bơm cho cả lô, những chỗ nhận nhiều nước sẽ càng ướt, còn đầu tưới bị nghẹt hoặc đặt lệch vẫn chưa được sửa. Trước khi thêm phân vào bồn, cần kiểm tra nước đang đến cây như thế nào.
Với tưới nhỏ giọt cho cà phê con, nên làm theo thứ tự: xem vùng ướt, đo lưu lượng, chọn lượng nước rồi mới chia phân. Các ví dụ dưới đây minh họa cách tính cho cà phê vối trong năm trồng mới. Lượng tưới và phân thực dùng cần được chọn theo cây, đất, thời tiết và kế hoạch của từng lô.
Nước đã thấm đến bầu chưa?
Ở cây vừa trồng, nước cần đến được bầu và phần đất tiếp giáp để rễ phát triển ra ngoài. Mặt đất phía ngoài đã ướt nhưng bầu còn khô thì cây vẫn có thể héo. Ngược lại, cấp nước liên tục vào một điểm sát thân có thể giữ cổ rễ quá ướt. Vì vậy, cần chạy thử ở các vị trí đại diện rồi xem nước lan đến đâu.
Trên đất nhẹ, nước thường xuống nhanh và lan ngang hẹp hơn, nên cần kiểm tra vị trí, số lượng đầu tưới và thời gian chạy ngay tại vườn. Có thể thử bố trí đầu ở các phía của bầu, sau đó xem vùng ướt có phân bố quanh rễ không. Khi cây lớn và rễ mở rộng, cần xem lại vị trí cấp nước.
Nếu chưa trồng, có thể khảo sát vùng ướt tại điểm thử. Với cây đã trồng, gạt nhẹ lớp phủ và chỉ mở một phần đất khi cần kiểm tra mức thấm, tránh đào sâu thành vòng quanh bầu. Nếu khó quan sát mà không ảnh hưởng rễ, nhờ kỹ thuật viên hỗ trợ.
Đo lưu lượng để tính thời gian tưới cà phê con
Lưu lượng ghi trên đầu tưới ứng với điều kiện thiết kế. Áp lực khác, đầu bị nghẹt hoặc hư có thể làm lượng nước thực tế thay đổi. Hứng nước trong cùng khoảng thời gian tại đầu, giữa và cuối khu tưới; kiểm tra thêm vị trí cao, thấp nếu địa hình thay đổi. Nếu có điểm ra nước chênh lệch rõ, kiểm tra bộ lọc, rò rỉ, áp lực và đầu tưới trước khi tăng giờ bơm.
Ví dụ, hứng được 500 ml trong 15 phút thì lưu lượng đầu đó là 2 lít/giờ. Giả sử mỗi cây có 2 đầu, cả 2 đều đo được mức này, tổng lưu lượng phục vụ cây là 4 lít/giờ. Khi đã chọn lượng nước cần cấp, tính theo:
Thời gian cấp nước (giờ) = Lượng nước dự kiến cho cây (lít) ÷ Tổng lưu lượng phục vụ cây (lít/giờ).
| Lượng nước giả định để tính |
Thời gian ở tổng lưu lượng 4 lít/giờ |
| 4 lít/cây | 60 phút |
| 6 lít/cây | 90 phút |
| 8 lít/cây | 120 phút |
Các mức 4–8 lít chỉ minh họa phép tính, không phải lượng tưới chung cho mọi cây. Thời gian tính từ lưu lượng ổn định còn cần đối chiếu với lượt chạy thử và quá trình làm đầy mạng ống. Khi châm phân, phải tính cả nước trước, trong và sau châm vào tổng nước của lượt tưới, không cộng các phần này ngoài lượng cây cần.
Khi nào cần tưới lại?
Sau lượt thử, kiểm tra nước đã thấm đến vùng rễ cần tưới và đất giữ ẩm được bao lâu. Nếu bầu vẫn khô trong khi nước ngoài bầu đã đi sâu, chỉnh vị trí hoặc số điểm cấp trước khi kéo dài thời gian. Trời nóng, đất giữ nước kém có thể cần chia thành các lượt nhỏ, gần nhau hơn; sau mưa hoặc ở nơi giữ ẩm lâu thì giảm theo thực tế.
Nếu dùng cảm biến, chọn vị trí và độ sâu đại diện cho vùng ướt có rễ đang hoạt động. Đặt ngay dưới đầu tưới có thể chỉ ghi nhận chỗ ướt nhất, còn đặt ngoài vùng cấp lại báo khô dù bầu vẫn ẩm. Đối chiếu số đo với đất tại vườn và hướng dẫn thiết bị trước khi đặt ngưỡng tưới.
Cây héo mà đất còn ướt cần được kiểm tra thoát nước và bộ rễ. Với cà phê con chậm lớn, hãy so vị trí cây yếu với vùng ướt và kết quả đo lưu lượng. Nếu nước đã đến đều mà cây vẫn suy, cần xem tiếp bầu, cổ rễ và sâu bệnh thay vì tăng tưới.
Chia phân từ kế hoạch của khu tưới
Khi đã kiểm soát được nước, mới bố trí các lượt châm phân. Nếu đất thiếu ẩm còn cây chưa cần thêm dinh dưỡng, chỉ tưới nước. Nếu đến lịch châm phân mà đất còn quá ướt, cần hoãn và sắp xếp lại. Trước khi chia lượng, cộng phần đã dùng từ bón lót, phân rải và các sản phẩm hòa tưới vào kế hoạch dinh dưỡng năm đầu.
Giả sử kế hoạch của lô đã chốt 2 kg urê 46% N và 1 kg KCl 60% K₂O cho 100 cây trong một giai đoạn. Cả 2 phải là sản phẩm có hướng dẫn châm phân. Chia thành 4 lượt bằng nhau thì mỗi lượt cần:
| Nội dung |
Cho 100 cây/lượt |
Bình quân mỗi cây/lượt |
| Urê | 500 g | 5 g |
| KCl | 250 g | 2,5 g |
| N từ urê | 230 g | 2,3 g |
| K₂O từ KCl | 150 g | 1,5 g |
Bảng này hướng dẫn cách chia một lượng phân giả định; lân, trung và vi lượng vẫn được cân đối riêng. Nếu đổi sang nguồn kali có thêm đạm hoặc lưu huỳnh, cần cộng lại chất đi kèm. Khi mưa làm giảm số lượt tưới, tính lại cách bố trí phần phân còn cần với người phụ trách kỹ thuật, không dồn hết vào lượt cuối.
Trước khi pha, kiểm tra sản phẩm với chính nước nguồn. Tách nguồn canxi khỏi phosphat, sulfat trong dung dịch mẹ đậm đặc; sau pha loãng vẫn phải kiểm tra khả năng tương thích. Không tự đưa lân nung chảy, vôi, dolomite, hữu cơ rắn hoặc NPK hạt chỉ dành cho bón rải vào đường nhỏ giọt. Sản phẩm lỏng có humic, rong biển hay vi sinh cũng cần được xác nhận phù hợp với thiết bị và cách phối trộn.
Bồn mẹ khác với dung dịch đến cây như thế nào?
Sau khi xác định lượng phân cho mỗi lượt, hãy tính cách hòa và châm để kiểm soát nồng độ dung dịch đến cây. Bồn mẹ chứa dung dịch phân đậm đặc, được đưa vào dòng nước tưới để pha loãng. Để tính nồng độ sau hòa trộn, cần biết lượng phân được châm và thể tích dòng tưới trong thời gian cấp phân; dung tích bồn mẹ riêng lẻ chưa đủ cho phép tính này.
Ở ví dụ trên, mỗi lượt có 750 g phân thương phẩm gồm 500 g urê và 250 g KCl. Nếu toàn bộ lượng này đi vào 800 lít dung dịch sau hòa trộn, nồng độ trung bình ngay sau bộ châm là 750 ÷ 800 = 0,9375 g/lít. Đây là nồng độ trong giai đoạn cấp phân. Nếu thể tích đó chỉ còn 400 lít, nồng độ thành 1,875 g/lít, gấp đôi.
Thể tích 800 lít đã gồm phần dung dịch mẹ được hút vào. Nước chạy trước và sau châm vẫn được tính vào tổng lượt tưới, nhưng không cộng vào 800 lít để tính nồng độ trong lúc đang cấp phân. Các số trên dùng để so cùng lượng phân trong các thể tích khác nhau, không phải nồng độ khuyến cáo cho cà phê con. Đây cũng là nồng độ tổng phân thương phẩm, không phải hàm lượng riêng N hay K₂O.
Châm phân cho cà phê con theo thứ tự nào?
Bắt đầu bằng nước để hệ thống ổn định áp lực và làm ẩm vùng rễ khi cần, sau đó mới châm lượng phân đã tính. Theo dõi lượng dung dịch thực được hút và thời gian châm; phân cần có đủ thời gian truyền đến các đầu xa trong khu tưới.
Kết thúc cấp phân trước khi dừng tưới, rồi cho nước đẩy phần còn trong ống qua các đầu tưới. Thời gian từng phần cần được xác định bằng vận hành thử trên mạng ống thực tế. Nếu phải tưới vượt lượng nước cây cần mới chuyển hết phân đến đầu xa, nhờ đơn vị thiết kế xem lại cách chia khu hoặc thiết bị châm.
Trước khi dùng hệ thống để châm phân, kiểm tra bộ phận chống chảy ngược về nguồn và cơ chế dừng cấp phân khi dòng nước ngừng. Việc xả cặn, vệ sinh đường ống cần theo quy trình riêng của đơn vị kỹ thuật, tách khỏi lượt châm phân chăm cây.
Theo dõi lượng nước và phân thực cấp
Nếu đo EC, tức độ dẫn điện, có thể dùng sự thay đổi so với nước nguồn để hỗ trợ kiểm tra phân đã đến đầu xa khi tín hiệu đủ rõ. Tuy nhiên, urê mới hòa tan đóng góp rất ít vào EC, nên số đo này không cho biết riêng lượng urê hoặc tổng đạm cây nhận. Vẫn phải đối chiếu lượng đã cân, lượng được hút và thời gian truyền. Khi đổi nguồn nước hoặc công thức phân, cần kiểm tra lại mối liên hệ giữa số đo và dung dịch đang dùng.
Sau mỗi lượt, ghi lượng nước, lượng từng loại phân, thời gian chạy và tình hình mưa gần nhất. Đối chiếu các ghi chép này với lưu lượng đo lại và độ ẩm bầu để điều chỉnh lượt sau. Phần chọn nguồn phân và tính dinh dưỡng khi tưới nhỏ giọt giúp rà lại công thức khi cần đổi loại phân.