Cà phê vừa xuống giống, cây vẫn giữ lá nhưng chưa phát triển ngọn rõ, có nên tưới kích rễ ngay không? Đây là lúc cần xem cây đang hồi phục thế nào và bầu có nhận đủ nước không. Nếu hố còn úng hoặc bầu bị khô, việc cần làm trước là sửa tưới và thoát nước.
Phân kích rễ cho cà phê mới trồng không phải vật tư bắt buộc cho mọi cây sau xuống giống. Cây giống khỏe, bầu nguyên, đất đủ ẩm và thoát nước có thể tiếp tục phát triển bộ rễ mà không cần thêm một chế phẩm. Chỉ nên cân nhắc dùng khi đã biết cần bổ sung chất gì hoặc muốn thử một sản phẩm hỗ trợ có hướng dẫn phù hợp với cây con ngoài vườn.
Trước hết, kiểm tra cây và hố trồng
Đi quanh lô và đánh dấu cây yếu. Xem chúng có tập trung ở chỗ thấp, cuối tuyến tưới hay cùng nguồn giống không, rồi kiểm tra ẩm trong bầu và đất sát bên. Với cây giữ lá, ngọn tiếp tục phát triển và không có dấu hiệu suy, có thể tiếp tục chăm nước, che phủ và theo dõi theo kế hoạch đang áp dụng.
Nếu bầu khô, chỉnh vị trí cấp nước để nước thấm vào bầu. Nếu đất ướt kéo dài, giảm hoặc tạm dừng tưới ở vùng thừa nước, ngăn nước dồn từ phía trên và khơi thông đường thoát. Lúc này, tưới thêm một bình chế phẩm sẽ làm hố nhận thêm nước.
Sau khi xem nước, kiểm tra cây có bị gió lay, cổ rễ bị vùi hoặc phân dồn sát bầu không. Phân chưa hoai hay phân khoáng tập trung trong hố cần được kiểm tra từ khâu bón lót trước khi bón tiếp.
Cây héo nhanh, cổ rễ thâm, rễ bị hư hoặc số cây suy tăng cần được kiểm tra tại vườn sớm. Không chờ dùng hết sản phẩm mới tìm nguyên nhân. Phần kiểm tra cà phê con chậm lớn hướng dẫn kỹ hơn cách xem nước, bầu, phân và sâu bệnh.
Khi nào nên cân nhắc dùng sản phẩm?
Khi nước và điều kiện trồng đã được xử lý, xem lại lượng dinh dưỡng đã cung cấp. Nếu đất và kế hoạch bón cho thấy còn thiếu một chất, chọn nguồn để bổ sung đúng chất đó. Nếu lượng lân đã được cân đối đủ, không cần bón thêm một loại lân cao chỉ vì sản phẩm được giới thiệu để kích rễ.
Đến lúc bón thúc cho cà phê mới trồng, cộng luôn dinh dưỡng có trong sản phẩm định dùng. Một chế phẩm có NPK vẫn làm tăng lượng đạm, lân hoặc kali của lượt bón. Nếu thêm sản phẩm này, cần tính lại phần phân nền còn phải dùng.
Nếu dinh dưỡng đã được bố trí phù hợp nhưng vẫn muốn thử sản phẩm hỗ trợ, tìm hướng dẫn dành cho cây con đã có rễ ngoài vườn. Kiểm tra cách dùng là bón đất, hòa tưới hay phun lá, rồi đọc lượng và thời điểm dùng. Sản phẩm chỉ hướng dẫn xử lý hạt hoặc hom giâm cần được lựa chọn riêng, không tự chuyển cách dùng đó sang tưới cà phê vừa trồng.
Đọc thành phần để biết sản phẩm đang cung cấp gì
Tên “kích rễ” ở mặt trước bao bì có thể xuất hiện trên nhiều công thức khác nhau. Khi đã biết mục đích cần dùng, đọc bảng thành phần để biết đang bổ sung dinh dưỡng, chất hữu cơ, vi sinh hay chất điều hòa sinh trưởng.
| Nhóm thành phần |
Cần xem gì trước khi chọn? |
| Dinh dưỡng như NPK, lân, canxi, vi lượng | Cây còn cần chất nào, hàm lượng bao nhiêu và đã có từ nguồn nào |
| Humic, fulvic, rong biển, amino hoặc dịch thủy phân protein | Thành phần, hàm lượng, dinh dưỡng đi kèm và hướng dẫn cho cây con |
| Vi sinh hoặc nấm cộng sinh | Chủng, mục đích sử dụng, hạn dùng, bảo quản và điều kiện vùng rễ |
| Auxin, chất điều hòa sinh trưởng | Hoạt chất, nồng độ, giai đoạn cây và cách xử lý được hướng dẫn |
Một sản phẩm có thể chứa nhiều nhóm trong bảng. Khi so sánh 2 chai hoặc 2 bao, hãy xem cả công thức và lượng dùng thay vì chỉ nhìn tên nguyên liệu. Sản phẩm ít dinh dưỡng vẫn cần dùng kèm phần phân nền mà cây còn thiếu; sản phẩm có NPK đi kèm phải được tính vào tổng dinh dưỡng đã lên kế hoạch.
Với humic, fulvic, rong biển hoặc amino, cần đọc hướng dẫn của đúng sản phẩm. Nguồn nguyên liệu và cách sản xuất có thể tạo ra thành phần khác nhau, nên liều của loại này không được tự lấy để dùng cho loại khác. Lượng nhỏ chế phẩm đậm đặc cũng không cung cấp cùng lượng vật liệu hữu cơ như phân hữu cơ bón nền.
Riêng vi sinh cần được bảo quản để giữ chất lượng đến lúc dùng. Kiểm tra hạn sử dụng, điều kiện bảo quản và hướng dẫn phối với thuốc hoặc phân khác; tránh pha chung khi chưa rõ khả năng tương thích. Đất đủ ẩm, thoát nước và chủng phù hợp với mục đích sử dụng cũng ảnh hưởng đến kết quả ngoài vườn.
Auxin và B1 có cần cho cây đã có rễ?
Hom giâm cần hình thành rễ mới từ mô thân, còn cây cà phê đem trồng đã có bộ rễ. Do đó, không lấy nồng độ chấm hoặc ngâm hom để pha tưới cho cây ngoài vườn. Với auxin, tác động còn phụ thuộc nồng độ và giai đoạn phát triển rễ; dùng sai có thể làm chậm sự kéo dài của rễ. Chỉ dùng theo hướng dẫn dành cho đúng đối tượng và cách xử lý.
Cây khỏe có thể tự tổng hợp vitamin B1, nên không cần xem B1 là bước bắt buộc sau trồng. Nếu sản phẩm chứa B1 cùng NPK hoặc chất điều hòa sinh trưởng, cần đánh giá cả công thức, không quy phần cải thiện cho riêng vitamin này. Bài Atonik, auxin, humic và fulvic giải thích thêm vai trò của các nhóm thường được gọi chung là kích rễ.
Tưới kích rễ cho cà phê: Tính lượng dung dịch thế nào?
Trước khi pha, cần biết nồng độ, lượng dung dịch cho mỗi cây hoặc diện tích, số lần và khoảng cách dùng. Nếu hướng dẫn chỉ ghi lượng cho một bình mà chưa rõ bình đó tưới được bao nhiêu cây, hỏi lại nơi cung cấp. Cùng nồng độ nhưng tưới nhiều nước hơn sẽ đưa nhiều sản phẩm hơn vào vùng rễ.
Tính lượng dung dịch theo số cây cần dùng rồi mới pha. Nếu chỉ một nhóm cây cần chăm riêng, không chuẩn bị lượng dành cho cả lô rồi tưới hết vào nhóm đó. Với sản phẩm có dinh dưỡng, tiếp tục cộng lượng đã dùng vào sổ phân bón để lượt sau không tính trùng.
Nếu đưa qua nhỏ giọt, kiểm tra sản phẩm có phù hợp với hệ thống không. Cặn không tan hoặc hỗn hợp không tương thích có thể gây nghẹt. Cần tính lượng thực đến cây, kiểm tra độ đồng đều và làm theo hướng dẫn của sản phẩm cùng thiết bị; không kéo dài tưới chỉ để đưa hết phần đã pha vào hố đang sũng nước.
Thử trên nhóm nhỏ và theo dõi trước khi dùng rộng
Khi đã chọn được sản phẩm có hướng dẫn phù hợp, hãy chọn các nhóm cây cùng giống, cùng đợt trồng và tình trạng ban đầu tương đương ở một số vị trí trong lô để thử. Để lại nhóm không dùng sản phẩm và giữ nước, cách chăm tương đương giữa các nhóm. Nếu nhóm dùng sản phẩm được tưới thêm còn nhóm đối chiếu thiếu nước, sẽ khó biết cây cải thiện nhờ điều gì.
Ghi tên sản phẩm, lượng, ngày dùng và số cây được xử lý. Qua các lần thăm vườn, đếm cây còn sống, ghi nhận cây héo vàng và theo dõi lá mới, sinh trưởng ngọn. Tính cả tiền vật tư và công pha tưới khi đánh giá lợi ích của việc dùng sản phẩm. Với sản phẩm có NPK, kết quả phản ánh cả công thức; muốn đánh giá riêng một thành phần cần cách bố trí thử nghiệm khác.
Nếu cây héo hơn, cháy lá hoặc số cây suy tăng sau dùng, dừng bổ sung và kiểm tra lại nguyên nhân trước khi làm lượt mới. Khi thấy nhóm dùng phát triển tốt hơn, thử lại ở vị trí hoặc đợt khác rồi mới quyết định dùng cho cả lô.