Trồng cà phê được vài tuần, nhiều nhà vườn bắt đầu chuẩn bị đợt phân đầu tiên. Lúc này, cây đã hồi phục có thể cần thêm dinh dưỡng, còn cây khô bầu hoặc đang úng cần được chăm lại trước. Vì vậy, nên kiểm tra và chia nhóm cây trước khi cân phân cho cả lô.
Với cà phê mới trồng, hãy chọn thời điểm bón dựa vào mức hồi phục của cây và độ ẩm đất. Sau đó chia lượng bón từ kế hoạch dinh dưỡng năm đầu, có tính cả phần đã được cung cấp qua bón lót và các nguồn phân khác. Các mức tham khảo, ví dụ dưới đây dành cho cà phê vối trồng mới ở Tây Nguyên.
Cà phê trồng bao lâu thì bón thúc lần đầu?
Sau khoảng 20–25 ngày, có thể bắt đầu kiểm tra để bố trí đợt thúc đầu. Trước hết, xem cây có giữ lá, tiếp tục phát triển ngọn và đứng vững trong hố không. Sau đó kiểm tra bầu cùng phần đất xung quanh. Chỉ bón khi cây đã hồi phục và vùng rễ đủ ẩm, thoát nước.
Đừng chỉ nhìn mặt hố, vì bầu và đất ngoài hố có thể giữ nước khác nhau. Có nơi đất bên cạnh còn ẩm nhưng bầu đã khô; có nơi mặt đất se lại trong khi bên dưới vẫn sũng. Kiểm tra nhẹ cạnh bầu sẽ giúp biết cần đưa thêm nước vào đâu hoặc phải sửa thoát nước, tránh đào bật cây lên tìm rễ mới.
Cây còn héo, vàng nhanh, cổ rễ thâm hoặc ở những hố đọng nước cần được đánh dấu để xử lý riêng. Nhóm này chưa nên nhận phân cùng lượt với cây khỏe chỉ vì trùng ngày trồng. Nếu cây suy nhanh, cần kiểm tra sớm tại vườn, không chờ đến mốc bón đã dự kiến.
Xem lại phần bón lót trước khi chọn phân thúc
Khi cây đã hồi phục và vùng rễ đủ ẩm, thoát nước, hãy mở lại sổ vật tư để xem mỗi hố đã được bón loại hữu cơ nào, bao nhiêu lân và có thêm phân khoáng không. Nếu còn phân tươi, mùi khai hoặc cục phân tập trung sát bầu, cần xử lý vấn đề từ khâu bón lót cho cà phê con trước khi đưa thêm phân vào đất.
Nếu phần lân đã được bố trí đủ trong kế hoạch, urê và kali clorua (KCl) là một phương án để bổ sung đạm, kali. Nếu còn thiếu lân, phải tính thêm nguồn phù hợp. Với mỗi lựa chọn, ghi lượng dinh dưỡng dự kiến đưa vào để biết từng chất còn cần bao nhiêu.
Với NPK, cần tính cả 3 chất theo hàm lượng trên bao. Chẳng hạn, 1 kg NPK 16-16-8 chứa 160 g N, 160 g P₂O₅ và 80 g K₂O theo công bố. Nếu dùng NPK rồi vẫn giữ nguyên lượng urê và KCl cũ, tổng dinh dưỡng có thể tăng ngoài kế hoạch. Khi đổi nguồn, đọc hàm lượng và quy đổi lượng phân đạm để tính lại phần phân đơn còn cần; lượng dùng cho cây con vẫn phải được lập riêng.
Tính lượng bón thúc cho cà phê mới trồng
Với cà phê vối trong năm trồng mới, có thể tham khảo khoảng 90–110 kg urê và 50–65 kg phân kali/ha, chia đạm, kali thành 2 đợt thúc. Đây là lượng cho cả năm trồng mới; trước khi chia, cần chọn tổng lượng phù hợp với đất, sức cây và những nguồn dinh dưỡng đã dùng.
Ví dụ, lô 1 ha có 1.111 cây, mỗi hố 1 cây. Giả sử sau khi tính phần bón lót và các nguồn khác, kế hoạch của lô cần bổ sung 100 kg urê 46% N và 60 kg KCl 60% K₂O trong năm trồng mới. Chia mỗi đợt thúc 50% sẽ được:
| Vật tư |
Lượng cho 1 ha ở lượt đầu |
Bình quân mỗi cây ở lượt đầu |
| Urê | 50 kg | Khoảng 45 g |
| KCl | 30 kg | Khoảng 27 g |
Theo phương án này, 100 cây cần khoảng 4,5 kg urê và 2,7 kg KCl cho lượt đầu. Các số theo cây đã được làm tròn. Cân theo số cây thực tế đủ điều kiện bón; nếu có cây yếu hoặc cây trồng dặm phải chăm riêng, giảm phần chuẩn bị cho lượt chung tương ứng.
Nếu lô có mật độ khác, đã dùng thêm NPK hoặc chọn tổng lượng khác, tính lại phần phân còn cần rồi chia theo số cây và số đợt bón. Khi muốn chia nhiều lượt nhỏ hơn, lấy tổng lượng còn lại để phân bổ lại từ đầu. Giữ nguyên lượng mỗi lượt rồi tăng số lượt sẽ làm cả năm nhận thêm phân.
Rải phân ở đâu để hạn chế xót rễ?
Sau khi cân lượng, chọn ngày đất đủ ẩm, thoát nước và không sắp có mưa lớn. Gạt lớp phủ tại vùng bón, rải đều theo vòng quanh cây rồi lấp nông. Với cây mới trồng, có thể bố trí vòng bón cách gốc khoảng 20–25 cm, đồng thời xem kích thước bầu và vùng đất có rễ để tránh phân tập trung sát thân.
Sau khi rải, xới nhẹ để vùi hạt phân, tránh làm đứt rễ. Đưa lớp phủ trở lại và chừa khoảng trống quanh thân. Tưới hỗ trợ khi cần để phân hòa tan và đi vào đất, tránh để nước chảy tràn hoặc làm hố sũng.
Trong lúc rải, nếu hạt phân rơi lên ngọn hoặc vào nách lá, lấy ra nhẹ nhàng và rửa bằng nước sạch. Kiểm tra chỗ rải để phân bố lại phần hạt bị dồn, tránh để phân tập trung thành đống ở một phía của cây.
Nếu hòa phân để tưới thì cần tính thêm gì?
Lượng trong bảng là lượng của một lượt bón đất. Muốn chuyển sang hòa tưới, phải tính thêm nồng độ và lượng dung dịch cho mỗi cây theo hướng dẫn sản phẩm hoặc phương án kỹ thuật phù hợp. Chỉ biết một cây được dùng bao nhiêu gam vẫn chưa đủ để quyết định pha vào bao nhiêu nước.
Trước khi pha, kiểm tra sản phẩm có dùng được cho hòa tưới không và đất có đang đủ ẩm, thoát nước không. NPK hạt bón đất có thể còn phần không tan hoặc phụ gia không phù hợp với thiết bị. Với hệ thống tưới nhỏ giọt cho cà phê con, cần đo lưu lượng và kiểm tra độ đồng đều để biết lượng dung dịch thực tế đến từng khu.
Tính tổng dung dịch cần pha theo số cây được tưới và lượng dành cho mỗi cây, rồi dùng dụng cụ đong để chia đúng phần đã tính. Chỉ tưới khi bầu có độ ẩm phù hợp. Nếu hố đã sũng nước, dừng lại để xử lý thoát nước, thay vì cố tưới hết phần dung dịch đã pha.
Theo dõi sau bón để chuẩn bị lượt tiếp theo
Sau khi bón, ghi ngày thực hiện, tên và lượng từng loại phân, số cây đã bón và tình trạng đất lúc đó. Đánh dấu những cây chưa bón để lần sau kiểm tra riêng, tránh nhầm với nhóm đã được chăm trong cùng hàng.
Trong các lần thăm vườn sau đó, xem độ ẩm, ngọn và lá thay đổi thế nào. Nếu héo hoặc cháy mép tăng sau bón, tạm dừng bổ sung, kiểm tra lượng đã cân và vị trí rải. Hạt còn dồn trên mặt có thể thu bỏ nếu thao tác không làm xáo trộn bầu. Hố đang úng cần được thoát nước, không cố xả thêm để rửa phân.
Cây tiếp tục suy hoặc xuất hiện tổn thương nặng cần được kiểm tra tại vườn. Với cây phát triển ổn định, đối chiếu lượng đã dùng với kế hoạch dinh dưỡng năm đầu để tính phần còn lại. Lượt tiếp theo được bố trí theo sinh trưởng và điều kiện nước; không dồn hết phần chưa bón vào cuối mùa mưa chỉ để đủ số kilôgam đã dự kiến.