Thấy cà phê nhạt màu, cành phát triển chậm, nhiều nhà vườn tính bón thêm urê. Nhưng nếu các đợt trước đã dùng NPK, SA hoặc DAP, vườn cũng đã được bổ sung đạm từ những loại phân này. Cần cộng phần đạm đó khi tính lượng urê cần mua, nếu không rất dễ bón vượt kế hoạch.
Để bón phân đạm cho cà phê hợp lý, trước hết cần kiểm tra nguyên nhân cây chậm phát triển, sau đó tính tổng lượng N dự kiến bón trong năm. Từ tổng này, trừ phần N do các loại phân khác cung cấp rồi mới quy đổi ra lượng urê cần mua. Cách tính dưới đây sẽ đi từ một ví dụ cụ thể đến cách chia đợt và so chi phí.
Cà phê vàng lá có cần bón thêm đạm?
Đạm giúp cà phê hình thành diệp lục, duy trì bộ lá và phát triển cành. Khi thiếu đạm, cây thường sinh trưởng chậm, lá nhạt màu, vàng đều, thường bắt đầu ở lá già. Nếu đã lâu chưa bón phân và cây có các biểu hiện này, cần xem lại lượng đạm đã dùng.
Tuy vậy, trước khi tăng phân, hãy kiểm tra đất và rễ. Chẳng hạn, nếu cây vàng lá sau một đợt mưa kéo dài, quanh gốc còn đọng nước và rễ tơ bị thối, việc cần làm trước là thoát nước và xử lý nguyên nhân tổn thương rễ. Khi rễ còn tổn thương, cây hút nước và dinh dưỡng kém nên khó phục hồi dù được bón thêm đạm.
Sau khi đất thoát nước và rễ phục hồi, mới đối chiếu lượng phân đã bón với sức cây, lượng quả đang mang và kết quả phân tích đất, lá nếu có. Những thông tin này giúp điều chỉnh đạm cùng với lân, kali; tránh tăng urê chỉ để lá xanh đậm hơn.
Chọn urê, SA hay nguồn đạm khác?
Khi đã xác định cần bổ sung đạm, hãy bắt đầu từ hàm lượng N trên bao phân. Urê 46% N chứa 46 kg N trong 100 kg phân; SA 21% N chứa 21 kg N trong cùng khối lượng. Vì thế, cùng mua 100 kg phân nhưng lượng đạm đưa vào vườn có thể chênh nhau khá nhiều.
| Nguồn phân |
Hàm lượng minh họa |
Dinh dưỡng cần tính cùng với N |
| Urê | 46% N | Chủ yếu dùng để bổ sung đạm |
| SA, sunfat amôn | 21% N, khoảng 24% S | Cộng cả lưu huỳnh vào kế hoạch |
| Canxi nitrat | Có sản phẩm chứa 15,5% N và 19% Ca | Tính đồng thời lượng N và canxi |
| Kali nitrat | Có sản phẩm chứa 13,7% N và 46,3% K₂O | Tính đồng thời lượng N và kali |
| DAP 18-46-0 | 18% N, 46% P₂O₅ | Bón lân bằng DAP cũng bổ sung đạm |
| NPK 16-8-16 | 16% N, 8% P₂O₅, 16% K₂O | Tính cả 3 chất trong kế hoạch năm |
Hàm lượng trong bảng dùng để giải thích cách tính. Khi đổi sang sản phẩm khác, lấy đúng số ghi trên nhãn để quy đổi; nhất là với canxi nitrat và kali nitrat, thành phần có thể khác giữa các sản phẩm.
Khi nào nên cân nhắc urê và SA?
Nếu vườn chủ yếu cần thêm N, urê có lợi thế về hàm lượng: cùng một lượng đạm, khối lượng phân phải vận chuyển và bón ít hơn SA. Còn khi vườn cần bổ sung cả lưu huỳnh, SA là một phương án để cân nhắc. Trước khi chọn SA, cần cộng phần S đã có trong NPK, phân lân hoặc các nguồn khác để tránh mua thêm khi đã đủ.
Việc dùng lâu dài cũng cần gắn với kiểm tra pH đất. Trên cùng lượng N, SA có khả năng làm đất chua mạnh hơn urê. Vì vậy, hãy theo dõi kết quả kiểm tra đất để điều chỉnh nguồn phân và kế hoạch bón vôi, thay vì cứ dùng SA rồi tự cộng thêm một lượng vôi cố định mỗi năm.
Canxi nitrat và kali nitrat phù hợp trong trường hợp nào?
Hai nguồn này đáng cân nhắc khi kế hoạch cần bổ sung đồng thời N với Ca hoặc K. Khi đó, lượng mua phải đáp ứng cả 2 chất; nếu chỉ tính theo N, phần Ca hoặc K có thể vượt mức dự kiến.
Nếu dùng qua hệ thống tưới, cần chọn sản phẩm có hướng dẫn tưới phân, đồng thời kiểm tra độ tan và khả năng phối hợp với các phân khác trong nước tưới. Sản phẩm bón đất và sản phẩm dùng để tưới phân có thể khác về yêu cầu sử dụng, dù cùng mang tên canxi nitrat hoặc kali nitrat.
Cách tính lượng phân đạm cho cà phê
Ví dụ dưới đây dùng mức tham khảo 280 kg N/ha/năm cho cà phê vối từ năm thứ 4, khi chưa có điều kiện phân tích đất, lá. Lượng bón cho từng vườn vẫn cần điều chỉnh theo đất, năng suất và các nguồn dinh dưỡng đã có. Cà phê mới trồng, vườn cưa đốn và cây đang suy rễ cần có kế hoạch riêng.
Trong phép tính, kg N là lượng đạm chứa trong phân. Muốn biết cần mua bao nhiêu kilôgam sản phẩm, chia lượng N cần bổ sung cho tỷ lệ N ghi trên nhãn:
Khối lượng phân cần mua = lượng N cần bổ sung ÷ tỷ lệ N.
Ví dụ dùng SA kết hợp với urê
Giả sử kế hoạch cho 1 ha đã chọn 200 kg SA loại 21% N, 24% S để bổ sung cả đạm và lưu huỳnh. Lượng SA này cung cấp 200 × 0,21 = 42 kg N và 200 × 0,24 = 48 kg S. Với tổng dự kiến 280 kg N, phần còn lại là:
280 − 42 = 238 kg N.
Nếu bổ sung phần này bằng urê 46% N, lượng cần mua là 238 ÷ 0,46 ≈ 517 kg urê/ha/năm, làm tròn đến kilôgam. Như vậy, 200 kg SA và 517 kg urê cung cấp tổng cộng 279,82 kg N, gần với mốc 280 kg của ví dụ.
Đến đây mới tính xong phần N và S. Lượng lân, kali và các chất khác vẫn cần được xác định trong cùng kế hoạch trước khi chốt danh sách phân cần mua.
Nếu đã dùng NPK thì giảm urê thế nào?
Vẫn giữ tổng dự kiến 280 kg N/ha/năm, nhưng giả sử phương án có thêm 1.000 kg NPK 16-8-16, bên cạnh 200 kg SA. Lượng NPK này cung cấp 1.000 × 0,16 = 160 kg N. Cộng với 42 kg N từ SA, đã có 202 kg N, nên lượng còn thiếu là:
280 − 160 − 42 = 78 kg N.
Phần còn thiếu tương ứng 78 ÷ 0,46 ≈ 170 kg urê/ha/năm. Lượng urê giảm từ khoảng 517 kg xuống 170 kg vì NPK đã cung cấp 160 kg N. Nếu vẫn giữ 517 kg urê rồi bón thêm NPK, tổng đạm sẽ vượt kế hoạch.
Ví dụ này minh họa cách trừ N từ các nguồn phân; lượng 1.000 kg NPK phải được kiểm tra lại theo nhu cầu lân và kali trước khi áp dụng.
Nếu vườn còn bón phân chuồng hoặc phân hữu cơ, cần tính thêm phần N có thể cung cấp trong vụ. Đạm hữu cơ phân giải dần, nên không trừ hết N tổng số ghi trên nhãn như với urê hoặc SA. Bài cân đối hữu cơ và vô cơ cho cà phê giải thích thêm cách ước tính phần đóng góp của những nguồn này.
Chia lượng đạm đã tính thành các đợt bón
Sau khi tính tổng năm, mới chia thành lượng dùng cho từng đợt. Với phương án 200 kg SA và 517 kg urê, bảng dưới minh họa cách chia cho cà phê vối kinh doanh tại Lâm Đồng: SA dùng trong mùa khô, kết hợp đợt tưới thứ 2; urê chia khoảng 30–40–30% qua 3 đợt mùa mưa.
| Đợt bón tham khảo |
Lượng cho 1 ha |
Lượng cho 1.000 m² |
N cung cấp trên 1 ha |
| Mùa khô, kết hợp đợt tưới thứ 2 | 200 kg SA | 20 kg SA | 42 kg N |
| Đầu mùa mưa | 155 kg urê | 15,5 kg urê | 71,30 kg N |
| Giữa mùa mưa | 207 kg urê | 20,7 kg urê | 95,22 kg N |
| Cuối mùa mưa | 155 kg urê | 15,5 kg urê | 71,30 kg N |
Khối lượng từng đợt đã làm tròn; 3 đợt urê cộng lại là 517 kg. Cột 1.000 m² bằng 1/10 lượng cho 1 ha. Ở vùng khác, cần điều chỉnh thời điểm theo mùa mưa, nước tưới và tình trạng cây.
Nếu chuyển sang phương án có NPK, phải tính lại bảng này. Hãy cộng N từ NPK và các nguồn khác trong từng đợt, rồi giảm lượng urê tương ứng. Phần tính lượng phân đơn và chia đợt giúp theo dõi thêm lân, kali; còn lịch bón NPK có ví dụ lập kế hoạch khi dùng phân phối hợp.
Lịch bón giúp chuẩn bị vật tư, còn ngày thực hiện phải dựa vào điều kiện vườn. Nếu đất đang ngập hoặc sắp có mưa lớn gây chảy tràn, dời đợt phân đến khi đất thoát nước, đủ ẩm và có thể bón, lấp phân thuận lợi.
Bón thế nào để hạn chế mất đạm?
Cân đúng lượng phân mới là một phần công việc. Nếu urê nằm lâu trên mặt đất ẩm, quá trình phân giải urê có thể làm một phần N thoát ra dưới dạng khí amoniac. Nguy cơ tăng khi trời nóng hoặc pH lớp đất quanh hạt phân cao. Vì thế, cần đưa phân vào đất sau khi rải, thay vì để trên bề mặt rồi chờ một trận mưa chưa biết lúc nào tới.
- Gạt nhẹ lớp lá, cỏ phủ ở vị trí bón, để phân tiếp xúc với đất; sau khi lấp phân có thể phủ lại.
- Rải đều ở vùng rễ dưới tán, tránh dồn phân sát thân hoặc thành đống.
- Rạch nông khoảng 5 cm rồi rải và lấp phân, chọn vị trí phù hợp để hạn chế cắt đứt rễ.
- Kết hợp tưới khi bón mùa khô, để phân hòa tan và thấm vào đất; điều chỉnh dòng tưới để nước không kéo phân chảy ra ngoài bồn.
Nếu chỉ có mưa rất nhỏ, hạt urê có thể ướt nhưng chưa thấm xuống đất đủ để hạn chế bay hơi. Ngược lại, mưa lớn gây dòng chảy có thể cuốn phân đi. Do đó, việc kiểm tra dự báo mưa cần đi cùng quan sát khả năng thấm, thoát nước tại vườn.
Khi sắp xếp các đợt chăm sóc, bố trí vôi và phân đạm riêng, không trộn chung. Với lân nung chảy, cũng nên bón riêng với đạm trong phương án này; chỉ phối trộn khi có hướng dẫn tương thích cụ thể cho những sản phẩm đang dùng.
So chi phí trên cùng lượng N
Sau khi chọn được cách bón phù hợp, có thể so giá urê và SA trên cùng lượng đạm. Nếu chỉ nhìn giá một bao hoặc một kilôgam phân, SA có thể trông rẻ hơn, nhưng mỗi kilôgam SA lại chứa ít N hơn urê. Công thức để so là:
Chi phí cho 1 kg N = giá 1 kg phân ÷ tỷ lệ N.
Ví dụ lấy giá giả định 12.000 đồng/kg urê và 8.000 đồng/kg SA:
| Nguồn phân |
Giá giả định cho 1 kg phân |
Chi phí tính riêng cho 1 kg N |
| Urê 46% N | 12.000 đồng | Khoảng 26.100 đồng |
| SA 21% N | 8.000 đồng | Khoảng 38.100 đồng |
Bảng tính theo hàm lượng N ghi trên nhãn, chưa tính vận chuyển, công bón và phần N thất thoát khi sử dụng. Khi so báo giá thực tế, cần cộng các khoản chi phí liên quan và xét cả cách bón có thể thực hiện ở vườn.
Với SA, còn phải tính đến phần lưu huỳnh. Trong ví dụ trên, 200 kg SA giá 1.600.000 đồng cung cấp 42 kg N và 48 kg S. Nếu chỉ mua 42 kg N bằng urê, cần khoảng 91,3 kg urê, tốn khoảng 1.096.000 đồng. Hai phương án chênh khoảng 504.000 đồng, làm tròn đến nghìn đồng.
Nếu vườn cần thêm S, có thể lấy khoản chênh này để so với chi phí mua một nguồn lưu huỳnh khác, đồng thời tính lại những dinh dưỡng đi kèm. Còn nếu NPK hoặc phân khác đã cung cấp đủ S, việc mua thêm SA chỉ để lấy đạm có thể tốn hơn phương án dùng urê. Với DAP, canxi nitrat và kali nitrat, cũng cần tính cả giá trị của lân, canxi hoặc kali trước khi lựa chọn.
Trước khi đặt phân, hãy ghi lại tổng N dự kiến cho cả năm, lượng N từ từng loại phân và khối lượng dùng mỗi đợt. Sau mỗi lần bón, cập nhật lượng thực tế đã dùng. Đến đợt tiếp theo, đối chiếu số đã bón với kế hoạch còn lại, kết hợp quan sát tình trạng cây để điều chỉnh lượng mua.