Khi chuẩn bị phân theo số bao quen dùng, có đợt bón chưa hết lô đã thiếu, có đợt lại dư nhiều. Chênh lệch có thể đến từ diện tích tính chưa đúng, số cây thay đổi hoặc mức đong giữa những người bón khác nhau. Để chuẩn bị sát hơn, cần tính lượng cho cả lô rồi mới chia đến từng gốc.
Khi bón phân đơn cho cà phê, hãy bắt đầu từ lượng dinh dưỡng cần bổ sung trong năm, quy đổi ra từng loại phân rồi chia thành các đợt. Một bảng theo dõi có đủ diện tích, loại phân và khối lượng sẽ giúp tính lượng cần mua, đồng thời biết sau mỗi đợt còn phải bón bao nhiêu.
Xác định lượng dinh dưỡng cần bổ sung trong năm
Trước khi tính số bao, hãy xem tuổi cây, năng suất cà phê nhân, lượng quả đang mang, sức cây và kết quả phân tích đất, lá nếu có. Những thông tin này giúp xác định lượng đạm, lân và kali phù hợp với vườn. Vườn mới trồng, vừa cưa đốn hoặc đang suy rễ cần được lập kế hoạch theo giai đoạn chăm sóc và tình trạng cây.
Nếu đã bố trí NPK, phân gà hay hữu cơ khoáng, cần tính phần dinh dưỡng từ những nguồn đó trước khi mua thêm phân đơn. Bài cân đối hữu cơ và vô cơ cho cà phê giải thích cách đưa các nguồn phân vào cùng một kế hoạch, tránh tính đủ từng nguồn rồi bón cộng thêm.
Ví dụ dưới đây dùng mức tham khảo 280 kg N, 100 kg P₂O₅ và 300 kg K₂O/ha/năm cho cà phê vối từ năm thứ 4, khi chưa có điều kiện phân tích đất, lá. Giả sử phần này được cung cấp bằng các loại phân trong bảng, ta sẽ tính khối lượng cả năm rồi chia đợt. Khi lập kế hoạch cho một vườn cụ thể, cần xác định lại mức bổ sung theo đất, năng suất và những nguồn phân đã có.
Quy đổi ra lượng SA, urê, lân và kali
Trên nhãn, N là hàm lượng đạm; lân và kali thường được công bố theo P₂O₅ và K₂O. Để đổi từ lượng dinh dưỡng sang khối lượng phân, dùng công thức:
Khối lượng phân = lượng dinh dưỡng cần bổ sung ÷ tỷ lệ hàm lượng.
Với urê 46% N, tỷ lệ đưa vào phép chia là 0,46. Trước khi tính urê, cần xem có nguồn nào khác đã cung cấp đạm hay chưa. Trong ví dụ này, giả sử chọn 200 kg SA loại 21% N để kết hợp bổ sung lưu huỳnh. Lượng SA đó cung cấp 200 × 0,21 = 42 kg N, nên phần đạm còn lại là 280 − 42 = 238 kg N.
Để bổ sung 238 kg N bằng urê 46% N, cần 238 ÷ 0,46 ≈ 517 kg urê, làm tròn đến kilôgam. Việc trừ 42 kg N từ SA trước khi tính urê giúp giữ tổng đạm gần với mức dự kiến. Nếu thay SA bằng nguồn khác, cần tính lại phần này; bài bón phân đạm cho cà phê có thêm cách chọn và so các nguồn đạm.
Với lân nung chảy loại 15% P₂O₅ hữu hiệu, lượng để cung cấp 100 kg P₂O₅ là 100 ÷ 0,15 ≈ 667 kg. Tương tự, để cung cấp 300 kg K₂O bằng KCl 60% K₂O, cần 300 ÷ 0,60 = 500 kg KCl. Sau khi làm tròn, lượng vật tư cả năm là:
| Loại phân trong ví dụ |
Hàm lượng dùng để tính |
Lượng cho 1 ha/năm |
| SA, sunfat amôn | 21% N | 200 kg |
| Urê | 46% N | Khoảng 517 kg |
| Lân nung chảy | 15% P₂O₅ hữu hiệu | Khoảng 667 kg |
| Kali clorua, KCl | 60% K₂O | 500 kg |
Phương án này cung cấp 279,82 kg N, 100,05 kg P₂O₅ và 300 kg K₂O/ha/năm theo hàm lượng dùng để tính. Các con số giúp kiểm tra lượng dinh dưỡng đưa vào kế hoạch; khả năng cây hấp thu còn phụ thuộc đất, rễ và cách bón. Nếu SA có 24% S, 200 kg SA còn cung cấp 48 kg S, cần cộng phần này trước khi chọn thêm nguồn lưu huỳnh.
Khi nhận phân lân, hãy kiểm tra hàm lượng P₂O₅ hữu hiệu của đúng sản phẩm được giao. Nếu lân nung chảy có 16% P₂O₅ hữu hiệu, lượng để cung cấp 100 kg P₂O₅ sẽ là 100 ÷ 0,16 = 625 kg, thay cho 667 kg của loại 15%. Khi đổi nguồn kali, cũng cần quy đổi theo hàm lượng K₂O mới, rồi cập nhật lượng dành cho từng đợt.
Lịch bón phân đơn cho cà phê qua 4 đợt
Khi đã tính được tổng năm, mới chia lượng cho từng đợt để chuẩn bị vật tư. Bảng dưới tính cho 1 ha cà phê vối kinh doanh, theo cách chia tham khảo tại Lâm Đồng: SA ở mùa khô kết hợp đợt tưới thứ 2, lân vào đầu mùa mưa; urê và KCl chia qua 3 đợt mùa mưa.
| Đợt bón |
SA |
Urê |
Lân nung chảy 15% |
KCl 60% |
| Mùa khô, đợt tưới thứ 2 | 200 kg | — | — | — |
| Đầu mùa mưa | — | 155 kg | 667 kg | 150 kg |
| Giữa mùa mưa | — | 207 kg | — | 150 kg |
| Cuối mùa mưa | — | 155 kg | — | 200 kg |
| Tổng cả năm | 200 kg | 517 kg | 667 kg | 500 kg |
Ba đợt urê tương ứng khoảng 30–40–30% tổng lượng urê; KCl chia 30–30–40%. Các khối lượng urê đã làm tròn nhưng cộng lại vẫn là 517 kg. Khi dùng ở vùng khác, cần điều chỉnh thời điểm theo mùa mưa và nước tưới; nếu đổi tổng lượng hoặc loại phân, tính lại cả bảng trước khi bón.
Mùa khô: chuẩn bị phân cùng với nước tưới
Với đợt SA trong ví dụ, cân lượng cho từng lô trước khi tưới rồi phân bố vào vùng rễ dưới tán. Kết hợp nước để phân hòa tan, thấm vào đất; tránh rải trên đất khô rồi để nhiều ngày mới tưới. Nếu chưa chủ động được nước, cần bố trí lại thời điểm bón.
Đầu mùa mưa: kiểm tra đất trước khi đưa phân ra vườn
Mưa đầu mùa có thể mới làm ướt mặt bồn trong khi đất bên dưới còn khô. Hãy kiểm tra vùng đất định bón; khi đã đủ ẩm mới thực hiện đợt phân. Trong phương án này, lân nung chảy được bón riêng với phân đạm. Urê và KCl chỉ trộn lượng đủ dùng ngay khi hướng dẫn của các sản phẩm cho phép.
Giữa mùa mưa: ưu tiên xử lý nước đọng
Nếu bồn còn đọng nước hoặc đất sũng kéo dài, cần thoát nước trước khi tiếp tục bón. Sau khi đất thoát nước, kiểm tra tình trạng cây để điều chỉnh lượng và bố trí lại đợt urê, KCl đã dự kiến.
Cuối mùa mưa: sắp đợt cuối theo độ ẩm và giai đoạn quả
Đến đợt cuối, kiểm tra lượng quả còn trên cây, sức cây và độ ẩm đất để đối chiếu với kế hoạch. Nếu mưa kết thúc sớm, cần có nước tưới cho đợt phân dự kiến. Khi chưa có nước, dời lại và tính phần còn cần bổ sung, tránh rải hết lượng còn trong sổ lên đất khô.
Tính lượng phân cho từng gốc và từng lô
Từ bảng 1 ha, lấy lượng phân nhân với diện tích lô tính bằng m² rồi chia 10.000. Với lô 1.000 m², mỗi lượng bằng 1/10 trong bảng. Chẳng hạn, đợt đầu mùa mưa cần 15,5 kg urê, 66,7 kg lân 15% và 15 kg KCl 60%.
Sau khi có lượng cho cả lô, mới chia theo số gốc thực tế. Nếu 1 ha có 1.100 gốc, lấy lượng phân tính bằng kg nhân 1.000 để đổi ra gam, rồi chia cho 1.100. Với 155 kg urê của đợt đầu mùa mưa, lượng bình quân là 155 × 1.000 ÷ 1.100 ≈ 141 g/gốc. Tính tương tự sẽ có:
| Đợt bón |
Lượng bình quân mỗi gốc trong ví dụ |
| Mùa khô | Khoảng 182 g SA |
| Đầu mùa mưa | Khoảng 141 g urê + 606 g lân + 136 g KCl |
| Giữa mùa mưa | Khoảng 188 g urê + 136 g KCl |
| Cuối mùa mưa | Khoảng 141 g urê + 182 g KCl |
Bảng theo gốc đã làm tròn để dễ chuẩn bị vật tư. Khi bón thực tế, cần xem riêng cây ít quả, mất nhiều tán, suy rễ hoặc cây trồng dặm để điều chỉnh lượng phù hợp. Diện tích cũng nên ghi bằng m² hoặc ha, vì cách gọi “sào” có thể khác nhau giữa các vùng.
Cân và bón thế nào để các gốc nhận phân đều hơn?
Khi đã tính xong, chia vật tư theo từng lô, từng đợt và ghi rõ tên phân, khối lượng. Ví dụ, đợt giữa mùa mưa của lô 1.000 m² cần 20,7 kg urê và 15 kg KCl. Cân đủ lượng cho lô trước, rồi mới chia cho người bón và chuẩn bị dụng cụ đong.
Với ca đong, hãy múc thử lượng định dùng rồi cân, đánh dấu mức tương ứng. Khi đổi loại phân hoặc đổi hỗn hợp, cân lại mức này. Cùng một thể tích nhưng khối lượng có thể khác, nên dùng chung một mức đong cho mọi loại dễ làm lượng thực bón lệch khỏi bảng.
Nếu trộn urê và KCl để bón ngay, làm từng mẻ đủ dùng và kiểm tra độ đồng đều. Hạt khác kích thước dễ tách lớp khi đổ hoặc vận chuyển, khiến phần múc ở đầu và cuối mẻ có thành phần khác nhau. Nếu khó giữ hỗn hợp đều, chia và rải riêng từng loại sẽ dễ kiểm soát hơn. Không trộn sẵn để lưu kho; giữ lân nung chảy bón riêng với đạm trong phương án này và bố trí vôi ở đợt khác.
Khi bón urê và KCl, chọn vùng rễ dưới tán có đất đủ ẩm. Gạt nhẹ lớp phủ, có thể rạch nông khoảng 5 cm ở vị trí phù hợp, rồi rải đều và lấp đất trước khi phủ lại. Trong lúc rạch, hạn chế làm đứt rễ; khi rải, tránh dồn phân sát thân hoặc thành đống.
Lân nung chảy không tan trong nước nên dùng để bón đất, không đưa loại này vào hệ thống châm phân. Nếu chuyển sang tưới phân, cần chọn sản phẩm có hướng dẫn phù hợp và tính lại lượng cho mỗi lần tưới; không lấy nguyên lượng của một đợt bón đất để pha vào một lần châm.
Cập nhật lượng đã bón trước khi mua đợt tiếp theo
Sau mỗi đợt, ghi lượng thực dùng của từng loại phân và trừ khỏi phần còn lại trong kế hoạch. Nếu giữa vụ có thêm NPK hoặc đổi công thức, tính lại N, P₂O₅ và K₂O từ phần bổ sung đó trước khi mua tiếp phân đơn. Bài lịch bón NPK cho cà phê có ví dụ cộng tổng và điều chỉnh khi đổi loại phân.
Với phân gà và các nguồn hữu cơ, cần ước tính phần dinh dưỡng có thể cung cấp trong vụ. Đạm hữu cơ phải phân giải dần, nên không trừ hết N tổng số như với urê hoặc SA. Bài bón phân gà cho cà phê giải thích thêm cách theo dõi nguồn này trong kế hoạch chung.
Trước lần bón tiếp theo, đối chiếu sổ đã ghi với lượng quả còn trên cây, sức cây và tình trạng đất, rễ. Nếu vườn rụng nhiều quả hoặc đang suy, cần xem lại lượng còn dự kiến bón. Khi thay đổi kế hoạch, cập nhật lượng mới cho cả lô và người thực hiện, để phần bón ngoài vườn khớp với số đã tính.