Đầu mùa mưa, nhiều nhà vườn chọn một loại NPK rồi đổi sang loại khác khi nuôi quả, nhưng số bao mỗi đợt vẫn giữ như năm trước. Cách này tiện khi mua phân, song dễ bỏ sót việc cả năm đã bón bao nhiêu đạm, lân và kali. Có khi chỉ thay thứ tự 2 con số trên bao, lượng lân và kali đưa vào vườn đã đổi khá nhiều.
Để lập lịch bón NPK cho cà phê, hãy ghi rõ lượng dinh dưỡng dự kiến bổ sung trong năm, công thức phân và khối lượng cho từng đợt. Cộng dinh dưỡng của các đợt rồi đối chiếu với tổng năm sẽ thấy chất nào đã đủ, chất nào còn thiếu. Bảng này cũng giúp tính lại nhanh hơn nếu phải đổi sản phẩm giữa vụ.
Trước khi lên lịch, xem lại vườn cần gì
Lịch bón cần phù hợp với tuổi cây và tình trạng vườn. Cà phê vối đang kinh doanh, mang quả ổn định sẽ có nhu cầu khác cây mới trồng hoặc vườn vừa cưa đốn. Với cây đang suy rễ hay bị úng, cần xử lý nguyên nhân trước khi quyết định tăng lượng phân.
Đối với vườn kinh doanh, hãy đối chiếu năng suất cà phê nhân, lượng quả đang mang, sức cây và kết quả phân tích đất, lá nếu có. Từ đó mới xác định lượng N, P₂O₅ và K₂O cần bổ sung. Vườn có đất giàu lân, chẳng hạn, cần được tính khác với vườn thiếu lân; dùng cùng một công thức qua mọi năm dễ dẫn đến bón thừa một chất nhưng vẫn thiếu chất khác.
Khi đã có tổng dự kiến, xem phần nào sẽ lấy từ NPK, phần nào từ các nguồn phân khác. Nếu kế hoạch có urê, SA, DAP hoặc phân hữu cơ khoáng, phải tính cả phần dinh dưỡng chúng cung cấp. Bài cân đối hữu cơ và vô cơ cho cà phê giúp đưa các nguồn này vào cùng một kế hoạch, tránh tính riêng rồi bón cộng thêm.
Đọc công thức NPK trước khi tính số bao
Sau khi xác định phần dinh dưỡng cần lấy từ NPK, mới chọn công thức phân. Ba số trên bao lần lượt chỉ tỷ lệ theo khối lượng của N, lân quy đổi theo P₂O₅ và kali quy đổi theo K₂O. Chẳng hạn, 100 kg NPK 16-8-16 chứa 16 kg N, 8 kg P₂O₅ và 16 kg K₂O.
| Công thức minh họa |
Dinh dưỡng trong 100 kg phân |
Điểm khác về tỷ lệ |
| 20-5-5 | 20 kg N, 5 kg P₂O₅, 5 kg K₂O | Đạm cao hơn lân và kali |
| 16-8-16 | 16 kg N, 8 kg P₂O₅, 16 kg K₂O | Đạm và kali có cùng tỷ lệ |
| 16-5-20 | 16 kg N, 5 kg P₂O₅, 20 kg K₂O | Kali cao hơn đạm |
Từ bảng này, có thể thấy cùng 100 kg phân, loại 20-5-5 cung cấp nhiều N hơn loại 16-5-20, nhưng lại ít K₂O hơn. Vì vậy, muốn chọn công thức phù hợp cho một đợt bón, cần xem cả 3 chất còn phải bổ sung, thay vì chỉ nhìn tên gọi như “phục hồi” hay “nuôi trái”. Đồng thời, đọc hướng dẫn để chọn sản phẩm phù hợp với cách bón đất hoặc tưới phân đang sử dụng.
Khi đã chọn được sản phẩm, lượng từng chất được tính bằng công thức:
Lượng dinh dưỡng = khối lượng phân × hàm lượng (%) ÷ 100.
Ví dụ, 500 kg NPK 16-8-16 chứa 80 kg N, 40 kg P₂O₅ và 80 kg K₂O. Chỉ cần làm tương tự cho từng đợt rồi cộng lại là biết tổng lượng của cả năm.
Ví dụ lập lịch bón NPK cho cà phê qua 4 đợt
Để thực hiện phép tính, giả sử phần dinh dưỡng cần bổ sung từ NPK gần 280 kg N, 100 kg P₂O₅ và 300 kg K₂O/ha/năm. Đây là mức tham khảo cho cà phê vối từ năm thứ 4 khi chưa có điều kiện phân tích đất, lá. Lượng phù hợp với từng vườn vẫn phải điều chỉnh theo đất, năng suất và các nguồn phân đã có.
Ví dụ chọn 3 công thức 20-5-5, 16-8-16 và 16-5-20, với khối lượng thuận tiện theo bao 50 kg. Bảng chia thành 4 đợt để minh họa cách tính vật tư; công thức và lượng của từng đợt cần được xác định lại trước khi dùng cho một vườn cụ thể.
| Đợt trong ví dụ |
Công thức |
Lượng cho 1 ha |
Lượng cho 1.000 m² |
| Mùa khô, có tưới | 20-5-5 | 150 kg | 15 kg |
| Đầu mùa mưa | 16-8-16 | 500 kg | 50 kg |
| Giữa mùa mưa | 16-5-20 | 600 kg | 60 kg |
| Cuối mùa mưa | 16-5-20 | 450 kg | 45 kg |
Lượng 16-5-20 trong 2 đợt cuối cộng lại là 1.050 kg. Như vậy, cả năm cần 150 + 500 + 1.050 = 1.700 kg NPK, tương ứng 34 bao loại 50 kg. Trong đó có 3 bao 20-5-5, 10 bao 16-8-16 và 21 bao 16-5-20; 21 bao cuối được chia thành 12 bao và 9 bao cho 2 đợt.
Cộng tổng N, P₂O₅ và K₂O của cả năm
Số bao cho biết lượng vật tư cần chuẩn bị. Để kiểm tra phương án có gần với mức dinh dưỡng đã chọn hay không, tiếp tục nhân khối lượng từng công thức với hàm lượng của từng chất:
| Dinh dưỡng |
Phép tính cho cả năm |
Tổng lượng |
| N | 150 × 20% + 500 × 16% + 1.050 × 16% | 278 kg/ha |
| P₂O₅ | 150 × 5% + 500 × 8% + 1.050 × 5% | 100 kg/ha |
| K₂O | 150 × 5% + 500 × 16% + 1.050 × 20% | 297,5 kg/ha |
Kết quả là 278 kg N, 100 kg P₂O₅ và 297,5 kg K₂O/ha/năm, gần mốc 280–100–300 của ví dụ. Phần chênh xuất hiện do khối lượng được chọn theo bao 50 kg. Khi lập kế hoạch thực tế, có thể cân lượng lẻ hoặc phối hợp nguồn phân khác để điều chỉnh; vẫn cần xem cả 3 chất mỗi khi thay đổi một loại phân.
Quy đổi cho diện tích và số cây thực tế
Nếu diện tích lô khác 1 ha, lấy lượng trong cột 1 ha nhân với diện tích lô tính bằng m² rồi chia 10.000. Chẳng hạn, đợt 150 kg/ha sẽ tương ứng 150 × 2.000 ÷ 10.000 = 30 kg cho một lô 2.000 m².
Muốn chuẩn bị lượng bình quân theo cây, lấy khối lượng của lô chia cho số cây thực tế. Giả sử 1 ha có 1.100 cây, đợt 150 kg tương ứng 150 × 1.000 ÷ 1.100 ≈ 136 g/cây. Đây là mức bình quân để tính vật tư; khi bón vẫn cần phân biệt cây khỏe đang mang quả với cây yếu hoặc cây trồng dặm trong cùng lô.
Đổi công thức NPK thì phải tính lại những gì?
Sau khi đã lập bảng, một thay đổi ở cửa hàng cũng có thể làm phương án lệch đi. Giả sử đến đầu mùa mưa, loại 16-8-16 không có sẵn và được đề nghị thay bằng 16-16-8. Nếu vẫn mua 500 kg, lượng N giữ ở 80 kg, nhưng P₂O₅ tăng từ 40 lên 80 kg, còn K₂O giảm từ 80 xuống 40 kg.
Giữ nguyên các đợt còn lại, tổng năm lúc này sẽ thành 278 kg N, 140 kg P₂O₅ và 257,5 kg K₂O/ha. So với phương án ban đầu, lân tăng 40 kg còn kali giảm 40 kg. Như vậy, giữ nguyên số bao khi đổi công thức đã làm thay đổi tỷ lệ dinh dưỡng của cả năm.
Trước khi nhận loại thay thế, hãy ghi lại phần đã bón và tính lượng N, P₂O₅, K₂O còn cần cho các đợt sau. Nếu công thức mới đưa thêm quá nhiều lân hoặc đạm, có thể chọn loại khác, hoặc tính lại phương án kết hợp NPK với phân đơn cho phần còn thiếu. Bài bón phân đơn cho cà phê vối có cách quy đổi để thực hiện bước này.
Kiểm tra thêm lưu huỳnh, canxi, magiê và vi lượng
Khi đã cân đối 3 chất chính, hãy đọc tiếp phần thành phần bổ sung trên nhãn. Hai sản phẩm cùng công thức NPK vẫn có thể khác về lưu huỳnh, canxi, magiê hoặc vi lượng, nên đổi sản phẩm cũng cần kiểm tra lại những phần này.
Chẳng hạn, nếu 1.050 kg loại 16-5-20 trong ví dụ có công bố 4% S, lượng lưu huỳnh đi kèm là 1.050 × 4% = 42 kg S/ha. Nếu các loại phân khác cũng chứa S, cộng tiếp phần đó trước khi quyết định mua thêm SA hoặc một nguồn lưu huỳnh khác.
Tương tự, khi bỏ lân nung chảy để chuyển sang NPK, cần xem lượng canxi và magiê từng được cung cấp từ nguồn lân đó sẽ thay đổi ra sao. Với ký hiệu “+TE”, dựa vào tên và hàm lượng từng vi lượng được công bố trên nhãn để tính lượng đã bón, rồi đối chiếu với nhu cầu bổ sung của vườn.
Ngoài phân vô cơ, nếu vườn còn dùng phân gà hay phân hữu cơ, cần ước tính phần dinh dưỡng chúng có thể cung cấp trong vụ. Đặc biệt, đạm hữu cơ phân giải dần, nên không trừ toàn bộ N tổng số như với urê hoặc SA. Bài bón phân gà cho cà phê hướng dẫn cách đưa nguồn phân này vào kế hoạch chung.
Từ lịch dự kiến đến ngày bón ngoài vườn
Sau khi đã chốt loại và lượng phân, mới chọn ngày thực hiện theo thời tiết, đất và giai đoạn cây. Với cà phê vối kinh doanh ở Tây Nguyên, có thể bố trí các đợt quanh mùa khô có tưới, đầu, giữa và cuối mùa mưa. Thời điểm cụ thể cần dịch chuyển theo mùa và điều kiện từng vườn.
- Mùa khô: chuẩn bị đủ nước và chọn sản phẩm có hướng dẫn sử dụng phù hợp. Kết hợp bón với tưới để phân hòa tan, thấm vào vùng rễ; tránh rải trên đất khô rồi để nhiều ngày mới tưới.
- Đầu mùa mưa: kiểm tra đất dưới lớp phủ và quanh vùng rễ. Nếu mưa mới làm ướt mặt bồn nhưng đất bên dưới còn khô, cần chờ đủ ẩm hoặc chủ động tưới trước khi bón.
- Giữa mùa mưa: kiểm tra đường thoát nước. Khi đất còn sũng, nước đọng quanh gốc, xử lý úng trước rồi bố trí lại đợt phân khi đất đã thoát nước.
- Cuối mùa mưa: xem giai đoạn quả và độ ẩm đất. Nếu mưa kết thúc sớm, cần có nước tưới cho đợt phân dự kiến; tránh rải phân rồi chờ một trận mưa chưa rõ lúc nào tới.
Đến ngày bón, cân lượng đã tính cho cả lô, rồi chia vào vùng rễ dưới tán, tránh dồn sát thân. Gạt nhẹ lớp phủ ở vị trí rải, bón và lấp đất theo hướng dẫn của sản phẩm, hạn chế làm tổn thương rễ. Nếu dùng ca hoặc dụng cụ đong, cân thử để biết mỗi mức chứa bao nhiêu; khi đổi loại phân, cần cân lại.
Sau mỗi đợt, ghi ngày bón, công thức và khối lượng thực tế vào bảng đã lập. Đến đợt sau, dùng số đã bón để tính phần còn lại, kết hợp kiểm tra sức cây và lượng quả. Cách theo dõi này giúp điều chỉnh ngay từ lúc mua phân, thay vì đến cuối năm mới phát hiện đã dùng lệch lượng dự kiến.