Khi tìm mua phân gà, có nơi bán phân trộn trấu còn ẩm, nơi khác bán hàng khô dạng viên. Cùng một khối lượng, 2 nguồn này có thể cung cấp lượng hữu cơ và dinh dưỡng khác nhau. Vì vậy, mức bón của một loại không nên áp nguyên cho loại còn lại.
Để bón phân gà cho cà phê, trước hết cần biết phân đã được xử lý ra sao và thành phần của lô định mua. Từ đó mới chọn lượng bón, tính số bao và phần dinh dưỡng đi kèm. Phần này cần được tính cùng NPK hoặc phân đơn đang dùng để quyết định có phải điều chỉnh phân khoáng hay không.
Chọn loại phân gà nào để bón cho cà phê?
Với phân lấy từ trại, hãy hỏi rõ có trộn trấu, mùn cưa hoặc chất độn chuồng hay không, phân còn tươi hay đã qua xử lý. Nếu còn tươi hoặc chưa ủ đạt yêu cầu, cần ủ đúng quy trình trước khi bón trực tiếp vào vùng rễ. Khi ủ, cần kiểm soát độ ẩm, độ thoáng và diễn biến nhiệt, sau đó có giai đoạn ủ chín trước khi sử dụng.
Nếu mua phân đã ủ, cần hỏi về quá trình xử lý và xem chất lượng của lô thành phẩm. Mùi khai gắt, mùi chua thối hoặc phân còn nóng mạnh bên trong là những dấu hiệu cần kiểm tra lại trước khi dùng. Ngoài độ hoai, cần xem quy trình xử lý và kết quả kiểm nghiệm mầm bệnh của lô hàng. Bài kiểm tra phân chuồng đã hoai để bón cà phê hướng dẫn kỹ hơn cách xem nguyên liệu trước khi đưa ra vườn.
Phân gà dạng viên hoặc bột khô dễ vận chuyển, cân đong hơn. Với loại này, cũng cần biết nguyên liệu đã được ủ hoặc xử lý vệ sinh ra sao, đồng thời kiểm tra hướng dẫn bón và thông tin chất lượng của sản phẩm.
Sau khi xem cách xử lý, đọc tiếp các thông tin trên nhãn hoặc phiếu phân tích:
- Độ ẩm, chất hữu cơ và N–P₂O₅–K₂O: dùng để tính phần vật liệu hữu cơ, dinh dưỡng đang mua. Cần xác định hàm lượng ghi trên phân nguyên trạng hay trên chất khô.
- EC và pH: EC là chỉ số dùng đánh giá muối hòa tan, còn pH cho biết tính chua, kiềm của mẫu. Khi so 2 kết quả, xem cả đơn vị và phương pháp đo để tránh so những số liệu được đo theo cách khác nhau.
- Thông tin chất lượng, an toàn: xem kết quả về vi sinh vật gây bệnh và kim loại nặng của lô hàng. Nếu sản phẩm công bố có vi sinh có ích, đọc thêm tên, mật độ và hạn sử dụng.
Phân đã ủ vẫn có thể chứa nhiều muối hòa tan. Nếu mua số lượng lớn, dùng nguồn mới hoặc đất đang có vấn đề về muối, nên có kết quả phân tích đại diện cho lô định bón. Như vậy, việc chọn lượng sẽ dựa vào chất lượng thực tế của phân và điều kiện đất.
Tính lượng phân gà cho mỗi gốc thế nào?
Bắt đầu từ hướng dẫn dành cho cà phê của sản phẩm đã chọn, rồi đối chiếu tuổi cây, sức cây, lượng quả và những nguồn phân đang dùng. Đọc rõ đơn vị là kg/gốc/lần hay kg/gốc/năm. Nếu nhãn ghi tổng năm, các đợt bón phải được chia trong tổng ấy; nếu ghi theo lần, vẫn cần tính tổng các lần vào kế hoạch năm.
Để minh họa cách chuẩn bị vật tư, giả sử một đợt bón cho cà phê vối kinh doanh đã chọn lượng 1,5 kg/gốc, dùng sản phẩm đóng bao 25 kg. Mức 1,5 kg chỉ dùng cho ví dụ này; lượng thực tế phải được xác định theo loại phân và nhu cầu vườn.
| Số gốc trong đợt bón |
Lượng phân cần chuẩn bị |
Số bao 25 kg |
| 100 gốc | 150 kg | 6 bao |
| 500 gốc | 750 kg | 30 bao |
| 1.100 gốc | 1.650 kg | 66 bao |
Nếu 1 ha có 1.100 gốc như dòng cuối, đợt này cần 1,65 tấn/ha. Trước khi giao việc bón, cân thử 1,5 kg rồi đánh dấu mức trên dụng cụ đong. Khi đổi loại phân hoặc độ ẩm thay đổi nhiều, cân lại mức này vì cùng một thể tích có thể chứa khối lượng khác.
Với phân gà trộn chất độn tự ủ, cần phân tích vật liệu sau ủ và xem tình trạng đất để xác định lượng. Nhiều hay ít trấu, độ ẩm và cách ủ đều ảnh hưởng đến chất lượng thành phẩm, nên không lấy nguyên mức bón trên nhãn một sản phẩm khác. Bài hướng dẫn bón hữu cơ cho cà phê giải thích thêm cách lập kế hoạch theo nguồn phân.
Tính được số bao mới là bước chuẩn bị vật tư. Trước khi chốt lượng NPK, urê hoặc kali cho các đợt tiếp theo, cần tính cả dinh dưỡng mà số phân gà này sẽ đưa vào vườn.
Tính dinh dưỡng trước khi điều chỉnh phân khoáng
Tiếp tục với lượng 1.650 kg ở trên, giả sử phân có hàm lượng tổng số N–P₂O₅–K₂O là 3–2–2, tính trên phân nguyên trạng. Khi đó, mỗi 100 kg phân chứa 3 kg N, 2 kg P₂O₅ và 2 kg K₂O. Lượng dinh dưỡng đưa vào vườn trong đợt được tính như sau:
| Thành phần |
Cách tính |
Lượng tổng số trong đợt |
| N | 1.650 × 3% | 49,5 kg |
| P₂O₅ | 1.650 × 2% | 33 kg |
| K₂O | 1.650 × 2% | 33 kg |
Ghi các lượng này cùng ngày bón và diện tích để theo dõi tổng dinh dưỡng của cả năm. Trước khi tính theo phiếu kiểm nghiệm, cần đọc đúng dạng chỉ tiêu N, P₂O₅, K₂O và cơ sở khối lượng mà phòng phân tích sử dụng.
Nếu kết quả được tính trên chất khô
Phân nguyên trạng là khối lượng cân khi nhận hoặc bón, gồm cả nước. Nếu phiếu phân tích của một lô khác ghi 3% N trên chất khô, đồng thời độ ẩm là 20% khối lượng phân nguyên trạng, phải trừ phần nước trước khi nhân với hàm lượng N.
Vẫn lấy 1.650 kg để minh họa, khối lượng chất khô là 1.650 × (1 − 20%) = 1.320 kg. Lượng N tổng số lúc này bằng 1.320 × 3% = 39,6 kg. Vì vậy, khi nhận phiếu, hãy xác định rõ phần trăm tính trên phân nguyên trạng hay chất khô; nếu chưa rõ, cần hỏi lại đơn vị phân tích trước khi quy đổi.
Từ dinh dưỡng tổng số đến lượng phân khoáng cần giảm
Quay lại lô 3–2–2 tính trên phân nguyên trạng, bảng cho biết có 49,5 kg N tổng số. Phần N ở dạng hữu cơ phải được phân giải rồi cây mới sử dụng được; tốc độ phụ thuộc vật liệu, độ ẩm, nhiệt độ và cách bón. Để giảm urê hoặc nguồn đạm khác, cần ước tính phần N có thể cung cấp trong vụ dựa trên kết quả phân tích và điều kiện sử dụng, thay vì trừ ngay toàn bộ 49,5 kg.
Với 33 kg P₂O₅ và 33 kg K₂O, cũng cần xem kết quả đất và lượng đã bón những vụ trước. Nếu đất đã tích lũy nhiều lân, hãy tính lại phần lân khoáng khi dùng thêm phân gà; phần kali lại cần đối chiếu với lượng quả đang nuôi và khả năng cung cấp của đất. Do đó, cần điều chỉnh riêng từng chất, tránh giảm đều một tỷ lệ cho tất cả NPK.
Sau khi xác định phần dinh dưỡng còn cần từ phân khoáng, có thể quy đổi ra lượng từng loại theo bài tính lượng phân đơn cho cà phê. Bài cân đối hữu cơ và vô cơ cho cà phê trình bày thêm cách đưa các nguồn vào cùng kế hoạch.
Chọn ngày bón và phân bố trong vùng rễ
Khi đã chốt lượng, chọn đợt bón theo độ ẩm và khả năng thoát nước của vườn. Với cà phê kinh doanh ở Tây Nguyên, đầu hoặc giữa mùa mưa thường thuận tiện để bón hữu cơ. Trước khi bón, kiểm tra đất dưới lớp phủ và ở vùng rễ, vì một trận mưa nhỏ có thể mới làm ướt mặt bồn.
Nếu bố trí sau thu hoạch trong mùa khô, cần có nước để duy trì ẩm sau bón. Với đất đang sũng hoặc còn nước đọng, xử lý thoát nước trước rồi sắp lại ngày bón. Khi đất đủ ẩm và thoát nước tốt, thực hiện lần lượt:
- Cân đủ cho lô, chia phần cho từng gốc. Dùng mức đong đã cân để người bón cùng thực hiện một lượng.
- Phân bố đều trong vùng rễ dưới tán. Tránh đổ thành đống sát thân hoặc để phần lớn phân nằm ngoài phạm vi được tưới.
- Rải, vùi hoặc lấp theo hướng dẫn của loại phân. Khi làm rãnh, hạn chế cắt đứt rễ; với sản phẩm hướng dẫn rải mặt, thực hiện đúng cách đó.
- Giữ ẩm sau bón và ghi lại lượng thực dùng. Tránh bón trước mưa lớn dễ tạo dòng chảy cuốn phân ra khỏi vùng rễ.
Nếu sản phẩm có vi sinh sống, xem thêm cách bảo quản và yêu cầu khi dùng cùng vật tư khác. Khi nhãn có chỉ dẫn bón riêng hoặc cách một lần xử lý khác bao lâu, đưa yêu cầu đó vào lịch trước khi thực hiện.
Tính chi phí và xem lại trước đợt bón tiếp theo
Với 1.650 kg trong ví dụ, nếu lấy giá giả định 5.000 đồng/kg, tiền mua phân là 1.650 × 5.000 = 8.250.000 đồng, tương đương 8,25 triệu đồng. Cộng thêm phần vận chuyển, bốc xếp và công bón chưa được tính trong báo giá để biết chi phí cả đợt.
Khi so 2 nguồn, cần đặt chi phí cạnh độ ẩm, chất hữu cơ, dinh dưỡng và lượng dự kiến dùng. Độ ẩm cao làm tăng khối lượng phải vận chuyển cho cùng một lượng chất khô. Còn với phân trộn chất độn, cần so cả chất hữu cơ và dinh dưỡng vì các thành phần này thay đổi theo nguyên liệu.
Sau bón, ghi lại sinh trưởng của cây qua các đợt chăm sóc; đến thu hoạch, đối chiếu năng suất cà phê nhân và chi phí thực tế. Với mục tiêu cải thiện đất, theo dõi độ tơi của đất và khả năng thấm nước, kết hợp phân tích đất qua các vụ. Những ghi chép này giúp quyết định lần sau có cần giữ lượng, đổi nguồn hay điều chỉnh cách bón.
Trước khi đặt đợt tiếp theo, xem tổng lượng phân hữu cơ đã bón, phần dinh dưỡng đã đưa vào vườn và lượng phân khoáng đã điều chỉnh. Nếu đất tích lũy lân hoặc muối, cần chọn lại nguồn và lượng bón cùng người phụ trách kỹ thuật. Khi đã đủ phần dự kiến trong năm, hãy đánh giá kết quả trước khi thêm một đợt chỉ vì nhãn còn cho phép sử dụng nhiều lần.