Khi hỏi mua hữu cơ, có nơi báo theo xe phân bò, có nơi bán phân gà ép viên, nơi khác lại tư vấn hữu cơ khoáng đóng bao. Chỉ nhìn giá mỗi tấn hoặc mỗi bao rất khó chọn, vì lượng nước, dinh dưỡng và công đưa phân đến gốc đều khác nhau.
Để chọn phân hữu cơ cho cà phê, trước hết cần biết đợt bón này nhằm đưa thêm vật liệu hữu cơ vào đất, bổ sung dinh dưỡng hay làm cả 2 việc. Từ nhu cầu đó mới tính lượng cần mua, phần phân khoáng cần điều chỉnh và tổng tiền thực hiện. Các bước dưới đây giúp so những nguồn phân đang có với điều kiện của vườn.
Xác định nhu cầu rồi mới so các nguồn phân
Một bao hữu cơ có thể chứa phân bò, phân gà đã xử lý, hỗn hợp nhiều nguyên liệu hoặc có bổ sung NPK. Khi nhận báo giá, cần hỏi rõ nguyên liệu và thành phần của từng phương án rồi mới so sánh. Nếu chưa rõ các tên gọi trên bao, bạn có thể xem cách phân biệt hữu cơ vi sinh, sinh học và hữu cơ khoáng.
Nếu muốn bổ sung vật liệu cho đất, cần xem sẽ nhận được bao nhiêu chất khô và hữu cơ. Nếu muốn giảm một phần phân khoáng, cần biết dinh dưỡng trong sản phẩm và phần cây có thể sử dụng trong vụ. Khi hỏi mua, làm rõ thêm lượng dự kiến dùng, chất lượng xử lý, nơi giao hàng và các khoản đã nằm trong báo giá. Nhờ đó, bạn có thể tính chi phí cho cùng số cây hoặc diện tích.
Phân bò hoai: Xem chất lượng và công đưa vào vườn
Nguồn phân bò gần vườn có thể là phương án đáng xem xét khi cần vận chuyển lượng vật liệu lớn. Nhưng số tấn nhận về còn gồm nước, chất độn và có thể lẫn đất cát. Cần biết độ ẩm và thành phần của lô để tính lượng hữu cơ thực đưa vào đất.
Trước khi nhận, mở xem cả bên trong: có phần nóng mạnh, mùi khai, cục tươi hoặc khối nhão bí không? Hỏi cách ủ và lần cuối thêm nguyên liệu mới. Nếu có bất thường, giữ riêng để kiểm tra độ hoai và chất lượng phân chuồng trước khi bón. Khi chất lượng đã phù hợp, tính tiếp tiền bốc dỡ và chuyển vào từng hàng; vườn dốc, đường nhỏ hoặc phải chuyển nhiều chặng có thể làm phần công tăng đáng kể.
Phân gà: Kiểm tra dinh dưỡng và muối hòa tan
Phân gà có thể đưa vào nhiều dinh dưỡng trên cùng khối lượng, nhất là khi so với phân bò ẩm hoặc lẫn nhiều chất độn. Tuy nhiên, thức ăn, chất độn và cách xử lý làm thành phần từng nguồn thay đổi. Nên dùng công bố hoặc kết quả phân tích của lô định mua để tính, không lấy một giá trị trung bình áp cho mọi loại.
Khi đã biết thành phần, cộng đạm, lân và kali vào kế hoạch. Nếu bổ sung phân gà mà vẫn giữ nguyên toàn bộ NPK cũ, vườn có thể nhận dư một số chất. Cần chú ý phần lân đã tích lũy từ các đợt bón trước để quyết định lượng mới. Phần tính lượng phân gà cho cà phê hướng dẫn cách cân đối với những nguồn phân khác.
Ngoài dinh dưỡng, cần xem muối hòa tan, nhất là khi bón cho cây con. Có thể kiểm tra qua EC, tức độ dẫn điện của dịch chiết phân, nhưng các báo cáo phải được đọc theo cùng phương pháp chiết. Với hàng ép viên hoặc sấy, vẫn cần hỏi quá trình xử lý và chất lượng; hình dáng, độ khô không thay cho những thông tin này.
Hữu cơ đóng bao: Đọc công thức để tính số bao cần dùng
Hàng đóng bao có khối lượng xác định, thuận tiện khi chia phần cho từng khu hoặc tổ chức công bón. Trước khi tính số bao, xem nguyên liệu, hàm lượng hữu cơ, độ ẩm, N–P₂O₅–K₂O và hướng dẫn theo giai đoạn cây. Với hữu cơ khoáng, phần NPK đi kèm cũng phải được ghi vào tổng dinh dưỡng của đợt.
Nếu có vi sinh, xem chủng hoặc nhóm được công bố, chỉ tiêu chất lượng, hạn dùng, bảo quản và mục đích sử dụng. Khi dùng ngoài vườn, vẫn cần chăm ẩm và thoát nước cho vùng rễ. Đất úng cần được thoát nước; cây có tác nhân hại rễ cần được xử lý theo chẩn đoán.
Khi so sánh các sản phẩm đóng bao, hãy xem hàm lượng được tính trên chất khô hay trên khối lượng sản phẩm nhận về. Cùng một tỷ lệ phần trăm nhưng khác cơ sở tính sẽ cho lượng vật chất khác nhau. Cần quy đổi về cùng cơ sở như phần dưới rồi mới so giá.
Quy đổi độ ẩm để biết lượng chất khô và hữu cơ
Khi độ ẩm được tính theo khối lượng vật liệu nhận về, dùng công thức:
Chất khô = Khối lượng vật liệu × (1 − Tỷ lệ ẩm).
Ví dụ, cùng mua 10 tấn vật liệu nhưng độ ẩm khác nhau:
| Khối lượng nhận về |
Độ ẩm |
Lượng chất khô |
| 10 tấn | 60% | 4 tấn |
| 10 tấn | 40% | 6 tấn |
Chất khô vẫn gồm cả phần khoáng và đất cát nếu có. Để tính riêng hữu cơ, cần thêm hàm lượng được công bố hoặc phân tích. Chẳng hạn, 4 tấn chất khô chứa 60% hữu cơ tính trên chất khô sẽ cung cấp 2,4 tấn hữu cơ. Đây là lượng đưa vào vườn; sau bón, vật liệu tiếp tục phân hủy, nên mức hữu cơ giữ lại trong đất cần được theo dõi qua các vụ.
Với lô mua rời nhiều tấn, lấy mẫu đại diện theo hướng dẫn nơi phân tích. Với hàng đóng bao, đối chiếu nhãn và kết quả phân tích với đúng sản phẩm, lô hàng sẽ nhận. Khi đã tính được lượng vật liệu cần mua, đối chiếu thêm cách bố trí lượng và thời điểm bón hữu cơ cho cà phê để đưa vào kế hoạch chăm sóc.
Tính phần dinh dưỡng có thể thay cho phân khoáng
Ví dụ tính lượng N: giả sử dùng 2 kg sản phẩm cho mỗi cây, sản phẩm ghi 3% N tính trên khối lượng nhận được. Lượng đó chứa 60 g N tổng số/cây; với 1.000 cây, tổng là 60 kg N. Các số này chỉ minh họa cách đọc hàm lượng và quy đổi, không phải liều bón chung cho cà phê.
Để tính lượng urê có thể giảm, cần biết phần N khoáng và phần N hữu cơ ước tính cung cấp được trong vụ. N hữu cơ còn phải qua phân giải, nên không coi toàn bộ 60 kg N tổng số là lượng cây dùng được ngay. Chỉ phần dự kiến cung cấp trong vụ mới được quy đổi ra lượng urê cần giảm theo hàm lượng của loại urê đang dùng. Thời tiết, loại phân và cách bón cũng cần được tính đến khi ước tính phần này.
Với lân và kali, quy các nguồn về cùng đơn vị trước khi cộng. Chỉ tiêu P, K nguyên tố khác với P₂O₅, K₂O trên nhiều nhãn phân bón. Chỉ giảm phân khoáng theo phần lân, kali mà nguồn hữu cơ có thể cung cấp và vườn vẫn còn cần. Nếu đất đã dư lân, bón thêm nguồn giàu lân sẽ không tạo ra khoản tiết kiệm tương ứng.
Lập tổng chi phí trước khi đặt mua
Sau khi chọn lượng phù hợp về vật liệu và dinh dưỡng, lập dự toán gồm tiền phân, vận chuyển, bốc dỡ, chuyển trong vườn, công bón và xử lý thêm nếu có. Hỏi rõ khoản nào đã nằm trong báo giá để tránh cộng trùng. Nếu tính khoản tiết kiệm phân khoáng, chỉ dùng phần thực sự có thể bớt mua từ bước cân đối ở trên. Nếu dự toán vượt khoản tiền đang có, phần ưu tiên phân bón cà phê khi ít vốn giúp xem lại các khoản cần mua trước.
So các phương án cho cùng số cây hoặc diện tích và cùng khoảng thời gian chăm sóc. Nếu một nguồn bón theo chu kỳ nhiều năm còn nguồn khác dùng hằng năm, quy chi phí về cùng khoảng thời gian, đồng thời giữ riêng khoản phải trả trong năm bón để chuẩn bị vốn. Như vậy sẽ thấy cả chi phí sử dụng lẫn số tiền cần chi ngay.
Vườn cần nhiều vật liệu hữu cơ có thể xem nguồn phân bò hoai gần nơi bón trước, rồi tính công đưa đủ lượng vào từng hàng. Với phân gà, xem thành phần dinh dưỡng và kiểm tra muối hòa tan trước khi chọn lượng. Nếu vườn khó vận chuyển hoặc thiếu người bón, hãy tính xem hàng đóng bao có giảm được công bốc, chia và rải như mong muốn không, rồi đối chiếu với tổng chi phí.
Trước khi đặt hàng, ghi rõ nguồn hoặc sản phẩm, lượng mua, nơi giao hàng, các khoản đã gồm trong giá và phần NPK cần điều chỉnh. Có thể phối hợp các nguồn, nhưng khi thay loại hoặc thay lượng phải cộng lại dinh dưỡng. Giữ bảng tính cùng thông tin lô hàng để đối chiếu lúc nhận và theo dõi sau bón.