Đến đợt mua phân bón cà phê, cộng tiền vật tư, vận chuyển và công bón mới thấy số tiền phải chi vượt dự tính. Giữ lượng NPK như mọi năm thì khó mua thêm hữu cơ; dành phần lớn tiền cho hữu cơ lại lo thiếu phân nuôi quả. Ngân sách phân bón có hạn, nên giảm khoản nào trước?
Với cà phê vối đang kinh doanh theo cách canh tác thông thường, hãy bắt đầu từ phần dinh dưỡng còn thiếu trong vụ. Nếu rễ khỏe, đủ nước và đã xác định cây cần chất nào, nên dành tiền đáp ứng nhu cầu đó. Việc bổ sung hữu cơ có thể duy trì bằng nguồn đạt chất lượng, chi phí vừa sức, kết hợp giữ lớp phủ. Trước khi chia tiền cho từng khoản, hãy cộng lại các nguồn đã bón và kiểm tra tình trạng từng lô.
Khi ít tiền mua phân bón cà phê, nên ưu tiên gì?
Trước khi đặt thêm phân, hãy xem lại từng lô: cây đang mang bao nhiêu quả, rễ và nước có ổn không, từ đầu vụ đã dùng những nguồn nào. Kết quả phân tích đất, lá nếu có sẽ giúp xác định phần cần bổ sung. Chỉ nhìn lá nhạt màu rồi mua thêm đạm dễ bỏ sót tình trạng úng, tổn thương rễ hoặc nguyên nhân khác.
| Tình trạng của lô cà phê |
Khoản nên xem xét trước |
| Rễ khỏe, đủ nước, còn thiếu dinh dưỡng cho vụ hiện tại | Chọn nguồn cung đúng chất và lượng còn thiếu, tính cả công đưa phân đến cây |
| Đã bón nhiều NPK, phân gà hoặc hữu cơ khoáng | Cộng lại dinh dưỡng từ các nguồn trước khi mua thêm |
| Đất nghèo hữu cơ, mặt đất trống, dễ khô hoặc xói mòn | Duy trì che phủ và bổ sung hữu cơ phù hợp, cùng với dinh dưỡng cần cho cây |
| Đất úng, cây suy rễ | Dành nguồn lực xử lý nước và xác định nguyên nhân hại rễ trước khi tăng phân |
| Kết quả kiểm tra cho thấy đất cần điều chỉnh độ chua | Lập phương án cải tạo theo đất và loại vật liệu, rồi bố trí các lượt phân |
Chẳng hạn, lô đang úng cần được thoát nước trước; mua thêm hữu cơ hay NPK đều chưa xử lý được nước đọng quanh rễ. Còn ở lô rễ khỏe nhưng thiếu đạm hoặc kali, một nguồn hữu cơ cung cấp ít dinh dưỡng trong giai đoạn đó sẽ khó đáp ứng phần thiếu. Đó là lý do cần kiểm tra vườn trước khi quyết định giữ hay cắt khoản mua nào.
Tính lại phần NPK đã có trong các nguồn hữu cơ
Sau khi xác định nhu cầu, hãy cộng những chất vườn đã nhận từ phân đơn, NPK, phân chuồng và hữu cơ khoáng. Cộng đủ từ đầu giúp biết chất nào đã đủ, chất nào còn thiếu, tránh mua thêm một nguồn chỉ vì chưa tính phần đã có trong hữu cơ.
Điểm cần tính kỹ nhất là đạm trong hữu cơ. N tổng số gồm cả N gắn trong chất hữu cơ và N ở dạng khoáng. Phần N gắn trong hữu cơ cần được giải phóng qua quá trình phân giải để chuyển sang dạng cây sử dụng được. Tốc độ này thay đổi theo nguyên liệu, độ hoai và điều kiện đất, nên cần ước tính khả năng cung cấp của nguồn đang dùng khi điều chỉnh đạm cho từng đợt.
Ví dụ, 1.000 kg sản phẩm có 2% N tổng số sẽ chứa 20 kg N nếu hàm lượng tính trên khối lượng sản phẩm đem bón. Con số này cho biết lượng N đưa vào vườn. Muốn quyết định bớt bao nhiêu urê trong vụ, cần biết thêm phần N có thể cung cấp trong thời gian đang xét. Nếu chỉ tiêu tính trên chất khô, phải trừ phần nước trước khi tính lượng N.
Ngoài đạm, cần tính cả lân và kali từ phân gà hoặc hữu cơ khoáng. Những nguồn này có thể đóng góp lượng đáng kể, nên phải cộng vào kế hoạch trước khi giữ nguyên số bao NPK và lân đơn như các năm trước. Phần cân đối phân hữu cơ và vô cơ cho cà phê hướng dẫn cách ghép các nguồn để tránh bón chồng.
Giữ nguồn hữu cơ bằng cách nào để đỡ tốn tiền?
Khi đã tính được phần dinh dưỡng cần mua, hãy xem tại vườn đang có những vật liệu hữu cơ nào có thể sử dụng. Cỏ đã phát, cành lá không bị sâu bệnh và vỏ cà phê là những nguồn có thể hoàn trả cho đất nếu được quản lý đúng cách.
Vật liệu hữu cơ góp phần cải thiện cấu trúc và khả năng giữ nước của đất; lớp phủ trên mặt giúp hạn chế bốc hơi. Vì vậy, khi giảm tiền mua hữu cơ đóng bao, cần bố trí nguồn hữu cơ khác và duy trì che phủ, tránh để đất trống.
Có thể bắt đầu từ các việc sau:
- Giữ cỏ đã phát và cành, lá không bị sâu bệnh làm lớp phủ, tránh chất sát cổ rễ; vật liệu mang bệnh cần được xử lý riêng.
- Ủ vỏ cà phê theo quy trình, chuẩn bị đủ chỗ, nước và công trước khi bắt đầu.
- Tìm nguồn phân chuồng hoai gần vườn, kiểm tra chất lượng và tiền vận chuyển đến nơi bón.
- Nếu trồng cây che phủ, dự trù công cắt tỉa để kiểm soát độ che phủ và hạn chế cạnh tranh nước với cà phê, nhất là mùa khô.
Tận dụng phụ phẩm giảm tiền mua vật tư, nhưng vẫn có công thu gom, ủ, vận chuyển và rải. Hãy ghi những khoản này cùng nguồn phụ phẩm định sử dụng để biết tổng chi phí. Nếu dự định dùng lại vỏ sau chế biến, phần ủ vỏ cà phê làm phân hữu cơ sẽ giúp chuẩn bị các công việc đó.
Tiếp đó, ghi nguồn hữu cơ mỗi lô đã nhận, lượng phụ phẩm có thể hoàn trả và phần diện tích còn trống. Đối chiếu thêm kết quả phân tích đất nếu có rồi mới tính lượng cần mua ngoài. Với lô đã nhận hữu cơ thường xuyên, hãy tính cả lượng đó khi dự trù phần mua thêm. Với lô nghèo hữu cơ và đất trống, cần xem riêng việc che phủ và lượng vật liệu nên bổ sung.
Rà 3 khoản này trước khi giảm lượng phân cần thiết
Lân được mua từ nhiều nguồn
Hãy kiểm tra vườn đã nhận lân từ NPK, lân đơn, phân gà và hữu cơ khoáng ra sao. Nếu nhiều năm vẫn bón theo số bao quen dùng, nên đối chiếu lại với kết quả phân tích đất và kế hoạch dinh dưỡng trước khi mua tiếp.
Việc giảm lân cần dựa trên phần đã có và nhu cầu còn lại của lô. Với lô đang thiếu, vẫn phải bố trí nguồn bổ sung; với lô đã có mức lân đất cao, cần xem lại khoản bón thêm. Phần chọn và tính lượng phân lân cho cà phê giúp đọc thành phần từng nguồn để so sánh.
Sản phẩm bổ sung chưa có mục tiêu rõ
Với amino, rong biển, humic, phân bón lá hoặc gói vi lượng, hãy ghi rõ định dùng để làm gì và thành phần có trùng với nguồn đã mua không. Khoản nào chưa xác định được mục đích hoặc đang trùng thành phần thì nên rà lại trước khi đặt mua, để giữ tiền cho nhu cầu đã rõ.
Chẳng hạn, nếu đợt này còn thiếu kali và chưa xác định nhu cầu dùng sản phẩm bổ sung, hãy dành tiền bù phần kali trước. Với một vi lượng đã được xác định là thiếu, giữ khoản bổ sung ấy trong kế hoạch. Thứ tự mua cần đi theo nhu cầu cụ thể của cây.
Phân bị mất do cách bón
Rải trước mưa lớn, dồn phân thành đống hoặc châm qua hệ thống tưới không đều có thể làm lượng phân đến vùng rễ không đúng dự tính. Hãy kiểm tra độ ẩm, thời tiết, vị trí rải và độ đồng đều của hệ thống trước mỗi đợt. Với urê, cách đưa phân vào đất cũng ảnh hưởng đến thất thoát đạm.
Sửa những khâu này giúp sử dụng lượng đã mua tốt hơn. Tuy vậy, lượng giảm cụ thể vẫn cần được tính lại theo kế hoạch; không tự trừ một tỷ lệ cố định chỉ vì vừa sửa cách bón.
Ví dụ tính ngân sách 8 triệu đồng
Giả sử một lô cà phê 1 ha đã được rà lại nhu cầu và các nguồn phân. Phần còn phải bổ sung trong thời gian còn lại là 80 kg N và 120 kg K₂O; lân cùng các chất khác đã được bố trí. Giả sử urê và KCl cũng phù hợp với phương án sử dụng của lô này.
Đây là nhu cầu giả định để minh họa cách lập dự toán, không phải liều chung cho 1 ha cà phê. Giá 12.000 đồng/kg urê và 12.000 đồng/kg KCl dưới đây cũng là giá giả định, chưa gồm vận chuyển và công bón.
Với urê 46% N, lượng cần tính là 80 ÷ 0,46, khoảng 173,91 kg; làm tròn 174 kg để dự trù tiền. Với KCl 60% K₂O, cần 120 ÷ 0,60 = 200 kg.
| Khoản dự trù |
Số lượng và tiền vật tư |
| Urê 46% N | 174 kg × 12.000 đồng = 2.088.000 đồng |
| KCl 60% K₂O | 200 kg × 12.000 đồng = 2.400.000 đồng |
| Tổng 2 khoản | 4.488.000 đồng |
Từ 8.000.000 đồng, còn 3.512.000 đồng trước khi trừ công, vận chuyển và các chi phí liên quan. Hãy dành đủ tiền cho những khâu này, rồi mới xem phần còn lại có thể dùng để chở hữu cơ gần vườn, xử lý phụ phẩm hay duy trì lớp phủ được bao nhiêu.
Nếu dồn cả 8 triệu đồng vào hữu cơ ngay từ đầu, cần tính rõ nguồn đó cung cấp được bao nhiêu N và K trong giai đoạn cần bón. Phần chưa đáp ứng sẽ vẫn phải bố trí tiếp. Vì vậy, nên so từng phương án bằng lượng dinh dưỡng, thời điểm cung cấp và tổng tiền phải chi.
Các lượng urê và KCl trong ví dụ là phần mua cho thời gian còn lại, cần chia theo những lượt bón phù hợp. Khi áp dụng cách tính cho vườn thực tế, hãy dùng nhu cầu đã xác định, hàm lượng trên bao và báo giá tại thời điểm mua. Phần lịch bón NPK cho cà phê hướng dẫn cách xem giai đoạn cây để bố trí các lượt.
So sánh chi phí phân bón cà phê thế nào?
Với nguồn cung một chất chính, có thể tính số tiền mua 1 kg chất đó. Chẳng hạn, urê 46% N ở giá giả định 12.000 đồng/kg có chi phí 1 kg N là:
12.000 ÷ 0,46 ≈ 26.087 đồng/kg N, làm tròn khoảng 26.100 đồng/kg N.
Phép tính này giúp so các nguồn cung cùng một chất. Khi so phân có nhiều thành phần, cần tính cả những chất vườn thực sự cần: NPK có đạm, lân và kali; SA có thêm lưu huỳnh; kali sunfat cũng cung cấp lưu huỳnh. Lấy toàn bộ giá NPK chia riêng cho N sẽ bỏ qua giá trị của lân và kali trong bao. Trước khi chọn, hãy kiểm tra tỷ lệ các chất trong sản phẩm có khớp phần còn thiếu, hay lại đưa thêm chất vườn đã đủ.
Với hữu cơ, hãy cộng theo cách:
Tiền mua + vận chuyển + bốc dỡ + xử lý cần thiết + công bón.
Sau đó, so sánh chất lượng, độ ẩm, hàm lượng hữu cơ và phần dinh dưỡng đi kèm. Một nguồn bán rẻ tại trại nhưng ở xa, nhiều nước hoặc còn phải ủ sẽ tốn thêm tiền trước khi bón được. Phần chọn phân hữu cơ cho cà phê giúp đối chiếu phân bò, phân gà và nguồn đóng bao theo những yếu tố này.
Khi có 2 báo giá, hãy tính lượng phải mua và tổng chi phí sử dụng của từng phương án cho cùng mục tiêu. Chẳng hạn, nếu một nguồn còn cần ủ, hãy cộng cả công, vật liệu và thời gian chuẩn bị trước khi quyết định chọn nguồn đó.
Nếu tiền vẫn chưa đủ, điều chỉnh theo từng lô
Trước hết, cập nhật lượng quả thực tế và năng suất dự kiến. Lô ít quả cần được tính lại so với kế hoạch ban đầu, đồng thời vẫn phải giữ phần chăm sóc cành, lá và bộ rễ cho vụ sau. Vì vậy, không nên lấy mức giảm sản lượng rồi giảm toàn bộ phân theo đúng tỷ lệ ấy.
Tiếp đến, tách các lô theo tuổi cây, khả năng mang quả, đất và tình trạng rễ. Với mỗi lô, ghi riêng khoản cần làm ngay, khoản tạm hoãn và lượng dinh dưỡng còn chưa bố trí được. Ở lần kiểm tra tiếp theo, xem lại từng khoản đã hoãn cùng tình trạng cây để quyết định phần cần thực hiện trước.
Với cây còn rễ khỏe và đủ nước, ưu tiên nguồn đáp ứng phần dinh dưỡng đã xác định là thiếu trong vụ. Với lô úng hoặc suy rễ, dành nguồn lực xử lý nguyên nhân trước khi bón tiếp. Sau mỗi đợt, ghi lượng đã dùng và kiểm tra lại cây, đất, nước để điều chỉnh phần còn lại.
Trước khi đặt mua, có thể ghi 3 dòng cho mỗi khoản: cần bổ sung chất gì, nguồn nào đáp ứng được và tổng chi phí đến lúc bón là bao nhiêu. Khi các con số đã rõ, việc chọn hữu cơ, phân khoáng hay kết hợp 2 nguồn sẽ sát với khả năng của vườn hơn.